TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Sunday, November 5, 2023

BỘI LAN - TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ HỒ XUÂN NGỌC




BỘI LAN


   Sông Trường Giang thượng nguồn từ tỉnh Thanh Hải, xuôi qua Tứ Xuyên đổ xuống Vân Nam, rồi đâm ngược về lại Tứ Xuyên chảy qua Hồ Bắc đến Triết Giang, cuối cùng đổ ra biển. 

   Cũng giống như Đại Hoàng Hà, nước sông Trường Giang mang nhiều phù sa và chảy rất xiết. Trên đoạn sông dài mấy trăm cây số lấn vào Vân Nam, có một quãng rẽ khúc rất gắt, nơi đó mọc lên một thị trấn khá sầm uất tên Lệ Giang.

   Từ Lệ Giang theo con lộ nhựa đổ xuống hướng nam độ mươi cây số thì gặp một ngã ba. Ngã bên trái chênh chếch phía tây nam về Côn Minh. Ngã giữa về Đại Lý. Ngã còn lại bên phải, đi chừng hơn trăm cây số đụng huyện Kiến Xương thì cùng đường.

   Kiến Xương là huyện nhỏ, dân số chưa tới một vạn người, tuy cách Lệ Giang không xa, nhưng đời sống người dân ở đây hầu như tách biệt hẳn với những tiện nghi văn minh bên ngoài. Cả huyện, trừ trụ sở Uỷ Ban Nhân Dân vừa được tu bổ năm ngoái là tương đối còn mới, phần còn lại của phố huyện là những dãy nhà xưa cũ được cất lên hàng trăm năm trước. Nếu giấu đi căn nhà của Uỷ Ban và giấu luôn cả mấy vị cán bộ mặc quân phục, thì khách viễn lai lạc bước vào huyện sẽ ngỡ mình đang sống dưới triều đại của Từ Hy thái hậu. Quả vậy, dân chúng ở đây bảo thủ đến mức độ khinh bỉ mọi sản phẩm văn minh đến từ thành phố. Để chứng tỏ điều đó, họ vẫn khoác lên người những bộ y phục rườm rà, lượm thượm đầy màu sắc như thời đại Mãn Thanh xa xưa, và cây đèn dầu Hoa Kỳ được thắp sáng hằng đêm trong nhà đã là một sự chấp nhận miễn cưỡng lắm rồi. Thế nhưng,  Kiến Xương vẫn chưa phải là ranh giới cuối cùng của nền văn minh nhân loại. Còn một nơi nữa bảo thủ hơn, nghiệt ngã hơn, với những tập tục nghiêm khắc tàn nhẫn mà giữa thời đại văn minh hiện đại , khó ai có thể tưởng tượng một nơi chốn như thế vẫn còn tồn tại trên quả đất này, đó là làng Cối.

   Làng Cối cách huyện Kiến Xương mười hai cây số. Đến làng Cối phải đi bằng đò trên nhánh sông Phù Lệ, một phụ lưu của sông Trường Giang. Nhân số của làng khoảng trên dưới sáu trăm người, chia ra làm nhiều nhóm gia cư trải đều qua mấy ngọn đồi. Tuỳ theo quan hệ nhiều ít, có nhóm năm sáu nóc gia, có nhóm chỉ hai gia đình gom lại sống chung với nhau. Gia trưởng lúc nào cũng là người đàn ông cao niên nhất trong nhóm, với đầy đủ quyền lực trong tay, có thể quyết định mọi thứ, kể cả cái chết cho những người phạm tội nặng trong gia đình.

   Về chế độ xử lý tội phạm, làng Cối vẫn duy trì những hình phạt tàn nhẫn đã có từ nhiều thế kỷ trước, và coi đó như những luật lệ tự nhiên cần thiết để bảo vệ trật tự cùng đạo lý cho làng. Về điểm này, cán bộ của ông Mao Trạch Đông đã thất bại hoàn toàn trong việc giáo dục dân làng học tập theo nếp sống mới, cùng đạo đức cách mạng. Đã có không ít cán bộ mang trách nhiệm "dạy dỗ" lên làng Cối, mong thay đỗi đám người "lạc hậu" ở đó, nhưng đành thất vọng trở về. Đúng ra, chính quyền tỉnh Vân Nam vẫn có thể dùng những biện pháp cứng rắn để "cải tạo" đám dân làng Cối. Nhưng, xét cho cùng, họ chỉ là một nhóm nhỏ sống hiền hoà quanh quẩn với đồi núi ruộng vườn, không chống đối đả kích cách mạng thì chẳng cần phải "giáo dục" họ làm gì. Bởi vậy, huyện ủy Kiến Xương,Lâm Dự Phiêu, chẳng những không thèm gửi cán bộ lên quản lý làng Cối, mà ngược lại, còn làm ngơ để dân làng tự mình giải quyết và xử lý mọi chuyện.

   Làng Cối đêm nay rộn rịp khác thường. Trên cánh đồng trống cạnh con đường đất bên mé sông Phù Lệ, đã có hàng trăm người đứng thành vòng tròn bao quanh hai chiếc củi gỗ lớn. Mấy chục ánh đuốc bập bùng nhẩy múa trên những khuôn mặt thâm trầm của đám đông, làm tăng thêm vẻ nghiêm trọng cao độ. Mọi ánh mắt giận dữ đổ dồn vào hai thân thể trần truồng của đôi nam nữ ngồi co ro trong mỗi chiếc củi. Người con trai, tuổi trạc hai mươi, thân thể vạm vỡ, co quắp nơi góc củi với đôi mắt sợ hãi, tuyệt vọng. Thiếu nữ độ chừng mười tám. Tuy bị phơi trần thân thể giữa đám đông, nhưng không hề lộ chút e thẹn và sợ hãi. Trái lại, nàng còn ngước đôi mắt sáng quắt căm hờn nhìn những người bu quanh như thách đố. Thân thể trắng ngần của cô gái, với đôi bầu vú căng tròn phơi bày trọn vẹn dưới những ánh đuốc bập bùng mờ ảo, trông quyến rũ dị thường. Một vài người đàn ông trong đám đông vội nghoảnh mặt đi, tránh không nhìn trực tiếp vào thân hình trần trụi của người con gái. Phải chăng họ sợ dục tính trong lòng sẽ bị khơi động, hay thầm tiếc thương cho thân xác tuyệt mỹ của cô gái kia, trong chốc lát sẽ bị dìm sâu dưới dòng sông Phù Lệ?

   Lý trưởng Tạ Ký, một ông già gầy gò nhỏ thó, người lảnh đạo tinh thần cùng trách nhiệm duy trì phong tục và truyền thống của làng Cối, bước đến bên hai chiếc củi ra dấu cho mọi người im lặng. Ông húng hắng ho mấy tiếng rồi cất cao giọng:

   - Kính thưa bà con. Như bà con đã biết, đôi gian phu dâm phụ này coi thường đạo lý tổ tiên, làm điếm nhục gia phong, lừa chồng dối vợ. Cả hai đã tư thông, dan díu, làm điều xằng bậy. Tội lỗi đó không thể tha thứ được, chỉ có cái chết của chúng nó mới rửa được nỗi xấu hổ của dân làng ta- chỉ vào chiếc củi nhốt cô gái, Tạ Ký gằn giọng- con quỉ cái này...từ giờ trở đi cho đến khi mi xuống âm phủ, mi không còn là dâu nhà họ Trương nữa, mà phải mang lại cái họ Nhạc thối tha của nhà mi. Còn thằng kia...mi đã trét bùn lên mặt của lão Hà cha mi, thì mãi mãi mi phải làm một con ma không tên họ.

   Tạ Ký ngưng nói nhìn vào đám đông phất tay ra hiệu. Đám đông bỗng vẹt ra chừa lối đi cho sáu người thanh niên khiêng hai chiếc rọ dài đan bằng tre vào đặt kế bên hai chiếc củi gỗ. Trái với người thanh niên, khi nhìn thấy chiếc rọ đã lịm đi trong nỗi sợ hãi, người con gái lại buông tiếng cười ngạo nghễ lạnh buốt khiến đám đông cũng rợn người. Trong khoảng khắc, như đã quen việc, sáu gã thanh niên trói ngược cánh tay của cô gái và gã thanh niên, rồi luồn thân thể trần truồng của họ vào hai rọ tre. Những mảnh tre đan bén ngọt cứa vào da thịt của hai tội nhân làm bật máu. Không một tiếng rên rỉ từ họ, ngoại trừ đôi mắt u uẩn của hai người nhìn nhau như trao đổi yêu thương lần cuối.

   Đợi mấy người thanh niên cột xong miệng rọ, Tạ Ký nói:

   - xin mời gia chủ hai họ Trương, Hà...

   Gia đình họ Trương, gồm cha mẹ dâu con cả thảy hai mươi tám người, bước ra từ nhóm người bu quanh, đến bên chiếc rọ bó lấy thân hình rướm đầy máu của cô gái. Tuần tự, từ già đến trẻ, mỗi người chỉ tay vào rọ buông một câu nguyền rủa rồi nhổ toẹt nước bọt vào cô gái. Xong, mọi người bước lui vào đám đông như cũ. Riêng có một bé trai độ sáu tuổi lại nhào đến ôm lấy chiếc rọ của người con gái khóc nức nở.

   - Thái thái (bà xã). Sao người ta lại bắt thái thái? Thái thái có đau không? Người ta đem thái thái đi đâu? Tối nay tôi ngủ với ai?

   Một bà xồn xồn, ý chừng là mẹ của cậu bé, chạy ra lôi ngược cậu về chỗ cũ. Thằng bé vùng vẫy khóc lớn, khiến người đàn bà nổi giận tát một cái thật mạnh vào mặt nó. Bà quát lớn:

   - Đồ ngu...nó không còn là vợ mi nữa. Nó là con quỉ. Nó đã ngủ với thằng trong rọ kia. Hiểu chưa?

   Thằng bé nín khóc ngơ ngác nhìn mẹ. Nó chẳng hiểu gì cả. Đầu óc non nớt của nó chưa thấu đáo được hết những gì người lớn đang làm. Chỉ mới đêm qua, khi nó chợt thức giấc giữa đêm và khóc toáng lên vì không thấy thái thái (vợ) của nó nằm bên cạnh làm mọi người phải bừng dậy. Để rồi sau đó chứng kiến tận mắt vợ nó trần truồng đang ôm chặt gã tình nhân ngủ vùi sau cuộc truy hoan trên đụn rơm sau nhà. Nó kinh ngạc khi thấy mọi người giận dữ đánh đập cô ta thật tàn nhẫn, chỉ vì một trò chơi rất vui mà nó đã tham dự hàng đêm. Như những đêm, nàng ôm sát nó vào lòng rồi đặt bàn tay nhỏ nhắn của nó lên bầu vú căng cứng, để nó nghịch ngợm một cách thích thú theo những tiếng rên rỉ đầy khoái cảm của nàng. Và, có khi nó còn cao hứng cắn mạnh vào đầu vú để nàng phải oằn mình đau đớn. Nhưng rõ ràng nàng đã không chút oán giận, lại còn mỉm cười dịu dàng với nó trong bóng đêm. Sao mọi người lại giận dữ vì một trò chơi rất vui như vậy? Và, người ta lại sắp sửa mang nàng đi thật xa khỏi đời nó. Rồi đêm nay, những đêm sau nữa ai sẽ là người ru nó vào giấc ngủ với trò chơi đầy thú vị ấy?

   Toàn gia họ Trương lui vào đám đông đã lâu, vẫn không thấy thân nhân của người thanh niên hiện diện, để chu toàn thủ tục cuối cùng. Tạ Ký nhìn quanh quất hô lớn:

   - Xin mời Hà tiên sinh...

   Đám đông lao xao nhưng không có người nào bước ra. Chờ một lúc, Tạ Ký cau mày, giọng có mòi bực bội:

   - Gia đình họ Hà không lộ diện thì ta cứ tiến hành, không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Quí vị có đồng ý không?

   Nhiều tiếng gắt gõng vọng ra từ đám đông:

   - Quăng cái đồ chó đẻ đó xuống sông cho rồi, dài dòng làm chi...lẹ lên còn về ngủ cho việc đồng áng ngày mai.

   Tạ Ký nhìn sáu gã thanh niên gật đầu ra hiệu. Đám thanh niên tỏ ra thành thạo, xốc rọ lên vai. Rồi cứ thế, ba người khiêng một rọ đi thật nhanh ra bờ sông Phù Lệ. Đám đông cầm đuốc sắp thành hàng dài theo sau như một đoàn lữ hành ma quái chập chờn theo ánh đuốc.

   Dòng sông tối đen một cách đáng sợ, những ánh đuốc bập bùng chỉ đủ sức soi sáng khoảng nhỏ khiêm nhường sát mé nước, nơi có chiếc xuồng con đang cắm sào đợi sẵn. Vài tiếng khóc sụt sịt của mấy người đàn bà trong đám đông khi hai chiếc rọ tre được đặt xuống lòng xuồng. Rồi, sau cái phất tay của lý trưởng Tạ Ký, chỉ có bốn gã thanh niên cầm hai bó đuốc nhẩy phóc lên xuồng chèo thật nhanh ra khoảng tối giữa dòng sông.

   Bấy giờ, trên khúc sông đen kịt vắng lặng, xa xa chỉ còn thấy lờ mờ hai ánh đuốc, bỗng trổi lên hai tiếng hét hãi hùng kèm theo tiếng động lớn của vật nặng bị ném xuống nước. Tiếng hét bi thảm mang nỗi sợ hãi lẫn tuyệt vọng, kéo dài lê thê trên dòng sông, rồi tắt nghẽn đột ngột trong bóng tối vô tình, lạnh lùng của đêm vắng.

                              ***

   Trong hai mươi bốn nhóm gia cư ở làng Cối, thì nhóm của ông Hồ Từ Phúc thuộc loại nhỏ nhất, toàn gia chỉ có bảy người sống trong hai căn nhà đối mặt nhau. Ông Hồ dáng người gầy gò, mới ngoài bốn mươi nhưng trông già hơn số tuổi rất nhiều vì hàm râu dài dưới cằm cùng khuôn mặt khắc khổ, nghiêm nghị. Tuy thế, bản tính của ông lại rất đôn hậu hiền hoà, luôn sẵn sàng giúp đỡ bà con láng giềng. Vợ ông Hồ lớn hơn chồng mười tuổi cũng là người hiền lành tháo vát và tốt bụng. Những người còn lại gồm: vú Chúc, cùng tuổi với bà Hồ, lo quán xuyến mọi việc trong nhà; Bội Lan, vợ của Hồ Kiến Lạc, đứa con trai duy nhất mới sáu tuổi của ông bà Hồ; lão Phùng khoảng sáu mươi tuổi, người giúp việc lâu năm trong gia đình, và sau cùng là A Ngưu, cháu trai của lão Phùng, một thanh niên cường tráng khỏe mạnh mười bảy tuổi, phụ giúp gia đình ông Hồ những công việc đồng áng nặng nhọc.

   Năm ngoái khi về làm dâu nhà họ Hồ, Bội Lan vừa đúng mười sáu tuổi. Nàng là một cô gái dịu dàng với khuôn mặt thuỳ mị. Ở cái tuổi mới lớn, Bội Lan toát ra một vẻ đẹp mộc mạc,  quyến rũ khiến người đối diện không khỏi đem lòng ngưởng mộ. Kể từ ngày về dưới mái nhà họ Hồ, với bản tính hồn nhiên vui vẻ, Bội Lan đã mang đến cho mọi người những chuỗi ngày đầm ấm và thú vị. Có những đêm trăng sáng, mọi người ngồi quây quần trên mấy tấm chiếu trải giữa sân đan rổ, ông Hồ nâng tách trà nhìn bàn tay mềm mại của Bội Lan thoăn thoắt luồn những sợi lạt vào thành rổ mà thấy niềm vui tràn ngập trong lòng. Thật là may mắn cho ông khi lựa được một nàng dâu ngoan hiền, siêng năng và đẹp đẽ như Bội Lan. "Thằng Lạc quả là tốt số" ông thường hay nghĩ như vậy, rồi có lúc lại kín đáo âu yếm nhìn bà Hồ mỉm cười.

   Như mọi khi lúc trời vừa hừng đông, Bội Lan dắt tay thằng Lạc đi xuyên qua đồi trà đến sườn đồi bên kia bẻ nấm. Lúc băng qua đồi trà, Bội Lan chợt nghe văng vẳng tiếng hát của A Ngưu trên nương rẩy phía trước. Nàng níu tay thằng Lạc dừng lại lắng nghe rồi mỉm miệng cười vì lời ca tình tứ của A Ngưu.

   “Hỡi cô gái mang đôi hài đỏ

   Hãy đến rửa chân bên dòng suối

   Cho tôi được ngắm bóng cô lung linh trên ánh nước

   Và được ngắm đôi chân thon nhỏ ngọc ngà”

   Giọng A Ngưu sung mãn đầy khí lực bao trùm cả mấy ngọn đồi làm rung động cả những ngọn cỏ xanh còn ướt sương mai. Thằng Lạc nhăn răng cười khoái chí, nó giật cánh tay Bội Lan chỉ về phía trước.

   - Thái thái! Mình tới gặp anh Ngưu đi. Tôi muốn nghe anh ấy hát.

   Bội Lan vui vẻ nhìn Lạc gật đầu. Chỉ chờ có thế, Lạc buông tay Bội Lan chạy vụt lên trước. Qua hai thửa ruộng nhỏ bên sườn đồi đã thấy ông Phùng và A Ngưu đang ngồi nghỉ dưới gốc cây tùng trên gò đất. Thằng Lạc ùa tới tíu tít:

   - Hát đi anh Ngưu! Hát nữa cho tôi nghe...

   A Ngưu làm bộ nghoảnh mặt sang nơi khác, nói:

   - Không.

   Lạc vùng vằng lắc mạnh cánh tay A Ngưu:

   - Làm ơn hát đi anh Ngưu...

   Ngưu bật cười quay lại dí ngón tay vào trán Lạc, nói:

   - Với điều kiện...

   Mắt Lạc sáng lên mừng rở.

   - Điều kiện gì? Nói đi anh Ngưu.

   Chỉ Bội Lan đang đứng xa xa cạnh bờ ruộng, Ngưu nói:

   - Bảo chị Lan tới đây ngồi chơi rồi anh sẽ hát cho Lạc nghe.

   Ông Phùng chợt hắng giọng trợn mắt nhìn A Ngưu. Đợi thằng Lạc đi về phía Bội Lan một quãng xa, ông Phùng rít khẽ qua hàm răng:

   - Bộ mày muốn chết sao Ngưu?

   A Ngưu cúi mặt ấp úng:

   - Con chỉ đùa thôi chú à...

   Ông Phùng nghiêm khắc nói:

   - Mình là phận hèn kém. Vả lại, nó là gái có chồng...bộ mày quên hẳn luật lệ của làng ta rồi sao? Bộ mày không nhớ hai mạng người đã bị quẳng xuống sông Phù Lệ đêm ấy sao?

   Ngưu chống chế:

   - Chồng gì...cái thằng con nít đó...

   - Mày câm miệng lại.

   Ngưu bực bội đứng lên. Nó nhìn về phía Bội Lan, cùng lúc ánh mắt Bội Lan cũng đang hướng về nó. Ngưu thấy Bội Lan khẽ mỉm cười rồi cúi xuống nói gì đó với Lạc. Nụ cười của Bội Lan khi nhìn Ngưu làm tim Ngưu rộn lên, đập mạnh như muốn bung ra khỏi lồng ngực. Sung sướng quá làm A Ngưu quên nỗi bực bội cùng ông chú đang giận dữ nhìn nó, Ngưu lại cất tiếng hát. Một bài hát gợi tình của những cặp trai gái nơi thôn dã. Tiếng hát vút cao rồi tỏa xuống đồi trà cùng những cánh đồng mênh mông mạ non, quấn quít vuốt ve từng ngọn cỏ, như mơn man lên từng sợi tóc, làn da nâu hồng của Bội Lan khiến nàng khẽ rùng mình với cảm giác vừa sung sướng lẫn sợ hãi. Trong nỗi ngây ngất vô thức, nàng kéo thằng  Lạc tựa vào người như thể đang ôm lấy thân hình cường tráng của A Ngưu, chứ không phải hình hài nhỏ bé, gầy guộc của thằng Lạc chồng nàng. Cho đến khi âm thanh ngọt ngào của A Ngưu dứt hẳn để trả lại cái không gian tỉnh mịch của buổi sáng sớm thì Bội Lan bừng tỉnh. Nàng đỏ bừng mặt với nỗi thẹn thùng rồi nắm tay thằng Lạc chạy ngược về lối cũ.

   Ông Phùng thở dài nhìn theo bóng nàng khuất dần sau đồi trà và chợt cảm thấy buồn rầu. Điều ông lo sợ đã xảy ra. Rõ ràng chúng nó, Ngưu và Bội Lan, đang vượt quá cái giới hạn đạo lý của làng Cối để bước chân xuống miệng vực tội lỗi. Nghĩ đến hình phạt thảm khốc của làng dành cho những kẻ lăng loàn khiến ông giật mình kinh hãi. Thằng Ngưu điên rồi chăng? Sao lại mơ tưởng đến Bội Lan, đứa con dâu nhà họ Hồ, vợ của Lạc? Bộ nó không nhớ đến thân phận của nó và của cả ông nữa, chỉ là hai kẻ tôi đòi trong nhà họ Hồ? Ngày ngày, đổ từng giọt mồ hôi trên những cánh đồng đổi lấy miếng ăn, và một chái tranh khiêm nhường sau căn nhà đồ sộ của ông Hồ. Sao nó lại tự hủy hoại đời mình bằng thứ tình yêu hoang tưởng rồ dại như vậy? Nỗi giận dữ lẫn sợ hãi bổng ập đến khiến ông Phùng cảm thấy ngực mình đau nhói. Ông đứng phắt lên. Rồi chẳng nói câu nào, ông kéo tay Ngưu đi thật nhanh lên triền đồi sau lưng.

                             ***

   Ánh trăng chênh chếch rọi xuyên qua song cửa sổ, phủ lên một phần thân thể của Bội Lan vùng sáng bạc như dải lụa mỏng. Nàng nằm yên như thế đã rất lâu, kể từ khi mặt trăng vừa nhú lên sau đồi trà dày đặc xa xa. Chỉ những đêm tối im vắng nằm yên một mình trong căn phòng nhỏ, Bội Lan mới thật sự là chính nàng, một cô gái mới lớn với những đòi hỏi khao khát của cơ thể và một tình yêu hoa gấm lãng mạn. Chỉ những đêm tối im vắng, nàng mới làm chủ được tâm hồn để đưa mình vào khoái cảm mênh mông của trí tưởng, của một tình yêu thầm kín mơ hồ. Bởi vì ngày mai, khi ánh mặt trời lên, nàng phải trở thành một con người khác, một người đàn bà đã có chồng với bổn phận và những ràng buột của luân lý. Cho dù chồng nàng chỉ là một đứa con nít, và vai trò làm vợ của nàng là hình thức cuả một người vú em. Làm sao có thể yêu được thằng bé mà nàng phải ẵm trên tay mỗi khi nó khóc? Nhưng đó là bổn phận, là phong tục mà mọi người ở làng Cối vẫn duy trì hàng bao thế kỷ, như một điều hẳn nhiên, dù nghịch lý. Và càng nghịch lý hơn, khi sau này thằng Lạc trưởng thành, nàng lại có bổn phận cưới thêm cho nó vài cô vợ trẻ. Để rồi chính mình trở thành một hình bóng cũ kỹ mờ nhạt trong mắt Lạc.

   Phải chi đừng có A Ngưu. Đừng có cái buổi tối Ngưu đột ngột hiện ra như bóng ma sau hiên nhà ôm choàng lấy nàng, để nàng phải thảng thốt ngỡ ngàng đón nhận nụ hôn đầu đời từ Ngưu, thì nàng sẽ cam tâm với đời sống bình dị hiện hữu, cho đến ngày Lạc trưởng thành với đầy đủ chức năng của người chồng, và mang đến cho nàng hạnh phúc lứa đôi, như thế chẳng là mãn nguyện lắm sao? Thế nhưng, chính vì nụ hôn vội vã trong bóng tối cùng vòng tay ôm xiết của Ngưu, đã khuấy động đời nàng  từ đêm hôm ấy. Và, giọng hát kia, giọng hát đã ru vào hồn nàng những đam mê, những  ngọt ngào tình tứ, làm sao nàng có thể quên?

   Dải trăng bạc phủ trên người Bội Lan lùi dần ra khung cửa theo ánh trăng đã lên cao. Bội Lan xoay người nhìn Lạc ngủ say sưa bên cạnh. Nàng dịu dàng kéo nhẹ tấm chăn mỏng đắp lên người nó, rồi khẽ cúi xuống hôn lên đôi má bầu bĩnh của thằng bé. Trong bóng tối lờ mờ, nàng lặng ngắm khuôn mặt ngây thơ đang say ngủ của Lạc và chợt cảm thấy buồn rầu. Cho dù có cố gắng đến đâu đi nữa, thì nàng cũng chỉ có thể thương mến Lạc như một người em nhỏ, không thể nào tha thiết với Lạc như tình nhân hay người chồng. Rồi đến một ngày không xa, chỉ vài năm nữa thôi, khi Lạc vừa đủ lớn, người ta sẽ dạy cho nó cái công việc vợ chồng. Và nàng, chính người từng bồng ẵm Lạc trên tay, sẽ là người đầu tiên để Lạc thực hành những điều người ta đã dạy nó. Cái gương mặt ngây thơ và bàn tay nhỏ nhắn đang áp dưới đôi má bầu bĩnh trong giấc ngủ kia, chắc sẽ không đáng yêu như bây giờ, mà có lẽ lại mang đến những đớn đau trên thân thể nàng. Một cảm giác chán chường lẫn sợ hãi bỗng ập đến khiến Bội Lan phải quay sang nơi khác. Nước mắt nàng ứa ra theo nỗi hờn tủi và lịm dần vào giấc ngủ với những giọt lệ còn đọng trên đôi mi đã khép kín.

   Xa xa, trong đêm vắng vọng lại vài tiếng chim lạ thật buồn.

                                 ***

   Bội Lan nắm tay thằng Lạc chạy thật nhanh lên căn nhà hoang chứa rạ trên đồi. Cơn mưa bất chợt đổ xuống khiến người nàng ướt sũng nước. Nỗi lo sợ trận mưa làm dâng nước con suối nhỏ bít lối về, làm nàng bối rối và lo lắng. Trong lúc ấy, Lạc lại cười đùa thích thú dưới cơn mưa. Giá như không gấp rút chạy vào căn nhà hoang để trú mưa, thì Bội Lan đã dừng lại tát mấy cái vào mặt của thằng Lạc rồi.

   Đẩy cánh cửa gỗ bước vào căn nhà, Bội Lan thở phào nhẹ nhỏm. Ít ra, ở nơi vắng vẻ này có một chỗ để trú ẩn vẫn tốt hơn là ngồi trơ trọi dưới tàng cây cổ thụ ngoài kia. Nàng khép lại cánh cửa rồi quan sát phía trong căn nhà. Có lẽ đây là nơi dùng làm chỗ nghỉ ngơi và chứa rạ trong mùa gặt của nhóm nào đó ở làng Cối, nên khá rộng rãi sạch sẽ. Những lớp rạ vàng óng còn sót lại phủ đều trên sàn nhà làm tăng thêm vẻ ấm cúng cho căn nhà hoang.

   - Cởi quần áo ra vắt cho khô đi Lạc.

   Bội Lan nói với Lạc, trong lúc nàng đang rủ bỏ hết xiêm y trên người chỉ chừa lại chiếc váy lót ngắn. Nàng rút chiếc trâm cài trên đầu rồi khom người về phía trước để mái tóc đen mượt rũ xuống, xong vuốt nhẹ những lọn tóc cho khô nước. Cử động của đôi tay làm mấy ngọn tóc chạm vào ngực nàng, mang lại cho Bội Lan một cảm giác nhột nhạt thích thú. Bằng cử động như dò dẫm, nàng từ từ đặt tay xoa nhẹ lên bầu ngực. Trong khoảng khắc, hơi thở Bội Lan trở nên dồn dập và hình ảnh A Ngưu bỗng chợt hiện ra, như thể Ngưu đang ôm nàng vào lòng cùng bàn tay chai cứng mơn man trên vùng ngực căng tròn.

   Cánh cửa gỗ bật mở thình lình khiến Bội Lan giật mình bừng tỉnh. A Ngưu người ướt đẫm xồng xộc bước vào. Khi nhìn thấy Bội Lan đang lúng túng che bớt thân thể nàng dưới lớp rạ, Ngưu thảng thốt dừng lại. Ngưu không ngờ trong nhà có người, và càng bất ngờ hơn, khi người đó lại chính là hình bóng nó đang mơ tưởng.

   - A...anh Ngưu.

   Tiếng thằng Lạc gọi lớn làm Ngưu sực tỉnh. Ngưu gượng nở nụ cười, cố làm vẻ tự nhiên nhìn Lạc, nói:

   - Tưởng không có ai. Chẳng dè Lạc và Chị Bội Lan lại vào trú mưa ở đây. Thật là bất ngờ.

   Thằng Lạc ngây thơ nói:

   - Tôi không thích ở trong này đâu. Tôi muốn ra ngoài tắm mưa vui hơn. Nhưng...nhưng...thái thái không cho. Anh Ngưu có thích tắm mưa không?

   Một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu Ngưu. Nó nhẹ nhàng đến bên Lạc, nói khẽ:

   - Nếu Lạc thích thì cứ ra ngoài tắm đi. Anh sẽ xin phép chị Lan dùm Lạc.

   Thằng Lạc ngần ngừ:

   - Anh chắc thái thái sẽ cho phép tôi chứ?

   Ngưu mỉm cười gật đầu.

   - Không sao đâu. Đi đi...

   Ngưu nắm tay Lạc kéo ra cửa. Đợi Lạc chạy khuất ra ngoài, Ngưu khép cánh cửa gỗ lại. Nó đứng tần ngần một hồi để thu hết can đảm vào người, rồi lom khom bước nhè nhẹ đến chỗ Bội Lan đang nằm ẩn mình dưới lớp rạ. Bội Lan sợ hãi lết dần về góc nhà cho đến khi lưng nàng đụng hẵn vào tường. Đôi mắt nàng mở lớn theo nỗi sợ hãi lẫn hồi hộp, thân hình trắng ngần phơi bày trọn vẹn dưới mắt Ngưu làm tăng thêm nỗi thèm muốn trong lòng Ngưu. Không chút do dự, Ngưu nhào đến đè ngửa Bội Lan một cách thô bạo và giật mạnh chiếc váy lót cuối cùng trên người nàng. Không một nỗ lực kháng cự, Bội Lan mím chặt môi nhắm mắt lại với nỗi nôn nao hồi hộp, chờ đợi cái giây phút kỳ lạ nàng hằng muốn biết, cái giây phút sẽ đưa nàng lên địa vị của một người đàn bà, mà chính Lạc, không thể nào làm được. Khuôn mặt Ngưu thật gần cùng hơi thở dồn dập của nó sát bên tai nàng, đôi bàn tay chai cứng bóp chặt bờ ngực căng tròn cuả Bội Lan. Rồi, cả thân hình vạm vỡ của Ngưu chợt ập xuống theo cái đẩy mạnh của nó, khiến Bội Lan phải rướn người lên để khỏi bật ra tiếng kêu trong cơn đau xé thịt, và lịm đi với cảm giác bềnh bồng cùng nỗi đau bàng hoàng kỳ lạ. Ngoài kia, mưa vẫn vô tình. Và gió, gió cũng vô tình luồn qua khe cửa mang theo tiếng vỗ rào rạt của những giọt mưa trên mái lá, lẫn âm hưởng tiếng cười vô tư của Thằng Lạc đâu đó dưới cơn mưa bên ngoài.

                                   ***

   Đã hơn mười năm qua, tôi vẫn không thể nào quên được cái ngày mưa định mệnh ở căn nhà chứa rạ trên ngọn đồi nhỏ nơi làng Cối. Cái ngày, đã đưa Bội Lan vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời tôi. Tôi còn nhớ cái cảm giác hoang mang sợ hãi khi bước vào căn nhà lúc cơn mưa chưa tạnh, để nhìn thấy một Bội Lan trần truồng đang ôm mặt khóc ngất trong vòng tay vỗ về của a Ngưu, để nhìn thấy đôi mắt đáng thương của hai người thảng thốt hướng về tôi như van xin và cầu mong sự tha thứ. Thật khó mà tả được cái cảm xúc của tôi lúc bấy giờ trong tình huống đó. Tôi đứng lặng thật lâu với những xung đột mãnh liệt trong hồn. Một đứa bé mới sáu tuổi đầu như tôi làm sao hiểu được những gì hai người đã làm. Có một điều chắc chắn Bội Lan không hề thương tôi như tôi hằng nghĩ. Bằng chứng là nàng đang chia xẻ cái tình thương đó cho A Ngưu, một người làm công của gia đình mà tôi rất ngưởng mộ. Nước mắt đầm đìa trên mặt, nhưng tôi vẫn cố mím chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc. Rồi trong khoảng khắc giận dữ với những tổn thương trong lòng, tâm hồn tôi như vượt thoát khỏi thân thể nhỏ bé của mình để trở nên một người trưởng thành thật sự. Tôi nói bằng một giọng lạnh lùng, như thể thanh âm phát ra từ miệng của một người nào đó:

   - Đi đi...hai người hãy trốn khỏi nơi này và đừng bao giờ trở lại.

   Bội Lan nhào đến ôm xiết tôi vào lòng. Thân thể nồng ấm của nàng và cả những giọt nước mắt đang nhỏ xuống vai tôi không hề mang lại một xúc cảm nào, ngoại trừ sự giá lạnh đến tàn nhẫn trong hồn tôi.

   - Lạc...tha thứ cho tôi. Tôi đã hành động rồ dại. Xin để tôi được chết với hình phạt thảm khốc dành cho những kẻ đê tiện.

   - Không...

   Tôi hoảng hốt đẩy Bội Lan ra. Không, nàng không thể chết như vậy được. Cả A Ngưu nữa. Hình ảnh cặp trai gái trong rọ bên dòng sông đêm hôm nào và tiếng hét thê lương của hai người bị bức tử, chỉ vì một phút rồ dại đã không ngớt ám ảnh tôi từ dạo đó. Làm sao tôi có thể nhẫn tâm mang lại cái chết cho hai người tôi thương mến? Không, họ phải đi khỏi làng này. Phải đi thật xa đến một nơi nào yên bình, để cùng nhau xây dựng một tình yêu cho đời họ. Còn tôi? Tôi sẽ giữ kín chuyện này cho đến ngày nhắm mắt.

   Tôi còn nhớ ánh mắt ngoái lại lần cuối của Bội Lan, trước khi bóng nàng và A Ngưu khuất hẳn sau khung cửa gỗ, như cố gửi lại cho tôi sự trình mến sau cùng. Mỗi bước chân cuống quít rời xa của Bội Lan, như mang đi cả một phần đời rất đẹp mà tôi đã có với nàng. Có lúc, tôi muốn chạy băng ra cánh đồng đang ngã nắng chiều sau cơn mưa bên ngoài để kéo lại hình bóng Bội Lan. Nhưng chân vẫn chôn chặt với nỗi buồn rầu, trong căn nhà còn vướng vít chút hương thơm quen thuộc của Bội Lan. Tôi cúi xuống nhặt chiếc trâm nằm lẻ loi trên lớp rạ nơi góc nhà, kỷ vật cuối cùng nàng bỏ lại trong cơn hoảng loạn. Rồi, trìu mến áp lên má và bật khóc ngon lành như thể chưa bao giờ được khóc.

   Tám năm sau ngày Bội Lan cùng A Ngưu trốn khỏi làng Cối thì xảy ra cuộc cách mạng Văn Hoá (1966). Biến cố này mang lại sự rối loạn cho cả nước. Ba tôi, vì nhục nhã và buồn rầu chuyện Bội Lan nên sức khỏe ngày càng yếu kém. Rồi, chỉ vài tháng sau, ngày đoàn cán bộ của huyện Kiến Xương vào làng kết nạp đám thanh niên nam nữ xung vào Hồng Vệ Binh, trong đó có tôi, để đưa lên Côn Minh học tập bổ xung cho chiến dịch cải cách văn hoá, thì ba tôi trở bệnh nặng và qua đời trong lúc tôi đang hăng say thích thú với những nhộn nhịp của thị thành, và giáo điều mới mẻ nơi trường học ở Côn Minh (Đoàn thể hoàn toàn giấu kín việc này. Mãi đến năm năm sau khi tôi trở về làng Cối mới hay rằng ba tôi mất đã lâu).

   Sau một năm thụ huấn ở Côn Minh, tôi được gửi sang Trùng Khánh, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên để bắt đầu công tác trong chiến dịch cách mạng Văn Hoá. Bấy giờ tôi đã mười lăm tuổi. Trong đám đồng viên cùng tuổi, tôi là người có thân hình rắn chắc hơn tất cả, nhờ vào những năm tháng phụ giúp công việc đồng án cho gia đình ở làng Cối. Công tác mà họ, những người trong chính quyền, giao phó cho chúng tôi là một thứ công việc đầy thú vị (chỉ sau này khi đã trưởng thành, tôi mới nhận thức được đó là một việc làm hết sức phi nhân và tàn nhẫn). Với chiếc khăn quàng đỏ trên cổ, đám Hồng Vệ Binh tụi tôi tung hoành khắp hang cùng ngỏ hẻm cuả Trùng Khánh. Có quyền lôi cổ bất cứ người nào mà chúng tôi không thích rồi tròng vào đầu bản án tử hình vì một lỗi mơ hồ, phản văn hoá, chống lại cách mạng. Chính quyền đã ban cho chúng tôi, Hồng Vệ Binh, những quyền hạn quá lớn. Đến nỗi, có lúc chúng tôi tràn vào cả những doanh trại Quân Đội Nhân Dân, kéo các vị chính ủy đầy công trạng ra mà sỉ mạ chửi bới. Quân đội hoàn toàn làm ngơ và có vẻ như sợ hải trước những lấn áp quá độ của đám Hồng Vệ Binh măng sữa, cuồng tín được che chở bởi đồng chí Giang Thanh và chủ tịch Mao Trạch Đông.

   Thường vào buổi chiều, sau một ngày hò hét đập phá, tôi lại ra bến phà bên sông Trường Giang để tìm sự yên tĩnh cho tâm hồn. Để nhìn dòng nước vàng đục nhấp nhô xuôi mãi không ngừng qua bến phà, qua hải cảng mở rộng của Trùng Khánh để gửi gấm tâm sự luyến nhớ bồi hồi, ngược dòng về làng cũ trên thượng nguồn. Có lúc, hình ảnh Bội Lan lại hiện về như một ám ảnh chua xót trong lòng. Làm sao tôi có thể quên nàng khi cứ mãi nhớ hoài những ngày tháng cũ, dù đã rất xa. Tôi ao ước một lần hội ngộ cùng nàng, để trả lại Bội Lan nỗi đau đớn trong tôi, trả lại đôi mắt nhìn tôi lưu luyến hôm nào. Và, trả lại chiếc trâm cài nàng bỏ lại mà tôi vẫn mang theo từ dạo ấy.

   Năm 1969, lực lượng Hồng Vệ Binh hoàn toàn tan rã sau gần bốn năm tàn phá, hủy diệt những chứng tích lịch sử, văn hoá, đền miếu. Chính chủ tịch Mao Trách Đông ra lệnh cho quân đội tiêu trừ chúng tôi, vì sợ ảnh hưởng của chúng tôi có thể lấn áp cả ông. Đoàn Hồng Vệ Binh, trở thành đối tượng của tất cả sự phẩn uất từ mọi tầng lớp trong nước. Đặc biệt, hàng ngũ Quân Đội Nhân Dân đã phát động đầu tiên chiến dịch càn quét, tiêu diệt đoàn Hồng Vệ Binh, để trả thù cho những hành động tàn nhẫn quá độ của đoàn trong quá khứ đối với họ.

   Tôi may mắn hơn những đồng bạn không bị xử bắn tại chỗ, khi được dựng dậy lúc nửa đêm trong khu nhà tập thể của đoàn. Mấy nòng súng AK lạnh lùng dưới ánh điện vàng úa như báo hiệu đoạn cuối của đời tôi. Những người lính của Quân Đội Nhân Dân bịt mắt trói tôi lại, rồi dẫn đi trong đêm tối hừng hực nóng của tháng bảy. Tôi bước chập choạng với những mịt mù ký ức, với những hình ảnh bềnh bồng nơi làng Cối, với những gương mặt thân yêu của ba mẹ tôi cùng Bội Lan. Nước mắt đầm đìa trên má. Không, tôi không hề sợ cái chết hay nỗi đau buốt trong khoảng khắc khi viên đạn đi xuyên qua đầu. Tôi chỉ sợ không còn cơ hội để gặp lại những người tôi yêu mến. Và, hơn tất cả, gặp lại Bội Lan để gửi lại nàng những nhớ thương đau đớn mà tôi đã ấp ủ qua bao năm tháng dài.

   Những người lính đưa tôi đi thật lâu trong đêm, cho đến khi nghe có tiếng sóng vỗ nhẹ và mùi ẩm của nước lẫn vào gió. Tôi đoán có lẽ gần đến bến sông Trường Giang.

   Giọng một người bộ đội lạnh buốt trong gió sông phần phật:

   - Cho nó một phát rồi quẳng xuống sông như mọi khi chứ?

   Có tiếng đáp:

   - Thủ trưởng bảo, phải đợi chính đồng chí thủ trưởng tới thụ lý về lý lịch can phạm trước khi hành hình, để tránh bớt tình trạng nhầm lẫn trước đây.

   Tôi nói bằng giọng tỉnh táo không ngờ:

   - Các đồng chí cứ ban cho tôi viên đạn đi. Đừng bắt tôi phải chờ đợi. Tôi chính là một trong những tên Hồng Vệ Binh ngu xuẩn mà các đồng chí đang lùng bắt.

   Một gã bộ đội giận dữ dí nòng súng vào ngực tôi, rít khẽ:

   - Câm miệng lại. Đồ chó đẻ.

   Có bước chân lao xao lẫn giọng nói hách dịch của một người đàn bà:

   - Đêm nay chỉ tóm được một tên thôi à? Nếu biết thế tôi chẳng cần phải thân hành ra đây giờ này, cứ để tự mình các đồng chí xử lý cho xong.

   Ai đó tháo tấm vải bịt mắt tôi. Phải vài giây sau tôi mới tiếp nhận được khung cảnh lờ mờ chung quanh, nhờ vào ánh đèn điện hắt ra từ những chiếc xà lan đậu xa xa giữa khúc sông. Người đàn bà mặc quân phục đứng trước mặt tôi cùng bốn gã bộ đội bao quanh. Ánh sáng không đủ tỏ để nhìn rõ mặt, nhưng nghe giọng nói ban nãy, tôi đoán người đàn bà này còn rất trẻ chưa đến ba mươi.

   - Tên? Giọng người đàn bà cộc lốc, lạnh lẽo.

   - Hồ Kiến Lạc. 

   - Quê quán?

   - Làng Cối, huyện Kiến Xương, tỉnh Vân Nam.

   Thanh âm của người đàn bà chợt run run hơi chút hoảng hốt:

   - Cha cậu...tên gì?

   - Hồ Từ Phúc.

   Ánh đèn pin loé sáng dừng thật lâu trên mặt tôi rồi tắt ngủn. Người đàn bà lạnh lùng quay sang hỏi gã bộ đội bên cạnh:

   - Các đồng chí đã cột chặt tay nó rồi chứ?

   - Vâng, chính tay tôi cột nó. Thưa đồng chí thủ trưởng.

   - Tốt. Các đồng chí rất tích cực phục vụ cách mạng trong công tác. Đêm đã khuya, các đồng chí có thể ra về nghỉ ngơi. Phần tên khốn kiếp này, tôi cần thâu thập thêm những liên hệ giữa nó và đồng bọn còn đang lẫn trốn, rồi sau đó chính tôi sẽ chu toàn cho nó. Các đồng chí cứ yên tâm.

   Người đàn bà đẩy tôi ngã chúi xuống bãi cát lài lài sát mé nước, trước khi bóng bốn gã bộ đội khuất hẳn vào màn đêm. Tôi nằm co quắp trên bãi cát pha lẫn sỏi đá, cố gượng lên nhưng không thể nào ngồi dậy được với đôi cánh tay bị trói quặt sau lưng.

   Bỗng dưng, người đàn bà quỳ xuống nâng tôi dậy. Rồi bất chợt ghì sát tôi vào lòng và bật khóc. Thanh âm tiếng khóc của nguời đàn bà như mang tôi về lại vùng quá khứ xa thẳm của mười hai năm trước, trong căn nhà chứa rạ trên đồi nơi làng Cối. Ngày đó, cũng tiếng khóc này, tiếng khóc cuả Bội Lan, khởi đầu cho sự ly biệt đằng đẵng bao năm tháng dài. Và giờ đây, cũng tiếng khóc ấy, lại là phút giây hội ngộ bất ngờ dù chỉ là cuộc hội ngộ bi thảm chua xót.

   - Lạc...

   Tôi đã chờ đợi thanh âm ngọt ngào này qua bao tháng ngày mòn mỏi. Nước mắt tôi ứa ra vì sung sướng. Trong giây phút, tôi quên bẵng mình chỉ là tên tử tội, mà chốc nữa đây tự chính tay nàng sẽ ban cho tôi một viên đạn oan nghiệt.

   Bội Lan kéo tôi đứng lên. Nàng hấp tấp mở nhanh những nút dây đang cột chặt tay tôi. Trong bóng đêm mù mịt bỗng vọng lại tiếng gọi lo lắng của một gã bộ đội:

   - Đồng chí thủ trưởng...đồng chí thủ trưởng...

   Bôi Lan rút khẩu súng ngắn ra khỏi bao da bắn hai phát vào khoảng không trên đầu.

   - Đi...đi đi Lạc. Hãy đi khỏi nơi này khi bóng tối còn che chở Lạc. Hãy bảo trọng...

   Nàng xiết tôi vào lòng cùng nụ hôn vội vã trên vầng trán đẫm mồ hôi của tôi, rồi quay mình bước nhanh vào màn đêm về hướng có tiếng gọi cuả gã bộ đội. 

   Tôi cắm đầu chạy điên cuồng trong bóng đêm cùng vị mặn cuả những giọt nước mắt nàng còn sót lại trên môi mình, và chỉ mong được chết cùng vị mặn ấy. Chân tôi rướm máu, mắt nhoè lệ. Tôi khóc. Tôi cười. Rồi khóc. Rồi cười. Tôi là ai? Có phải tôi là thằng Lạc đáng thương của cái làng Cối xa thẳm nào đó? Hay tôi chỉ là một người điên? Một người điên vừa tìm được quá khứ lại đánh mất. Một người điên vừa khóc vừa cười, cô độc trong đêm đen, bên dòng Trường Giang vẫn vô tình xuôi mãi về phương Đông...

                               ***

   Mỗi sáng thức dậy nhìn vào gương, nhìn vào những nếp nhăn trên khuôn mặt, nhìn những sợi tóc bạc nhiều hơn ngày hôm qua, nhìn sự biến đổi của thời gian trong cuộc đời, tôi không còn tìm thấy thằng Lạc trong tôi. Tôi không phải là Lạc của làng Cối xa thẳm mịt mù, không phải là Lạc được cưng chìu yêu thương, một đứa trẻ được mua lại từ người lái buôn xa lạ bên Việt Nam bởi vợ chồng ông Hồ. Lạc, chỉ là một hình bóng mơ hồ trong quá khứ. Thế nhưng, cái quá khứ ấy, cái đời sống thật, rất xa, nơi làng Cối, cùng hình bóng ba mẹ nuôi và Bội Lan vẫn mãi mãi trong tim tôi. Tôi vẫn nhớ vòng tay thương yêu âu yếm của mẹ, ánh mắt chan chứa hạnh phúc cùng niềm vui của ba khi ôm tôi vào lòng, như cái tên ông đặt cho tôi, Hồ Kiến Lạc. Tôi vẫn nhớ vị mặn cuả những giọt nước mắt Bội Lan bên bến sông đêm xa thẳm hôm nào. Và, cho dù quả tim nàng đã trao cho anh Ngưu, nhưng với tôi, Bội Lan vẫn là hình bóng tuyệt vời trong ký ức, một tình yêu tha thiết và cay đắng. Tôi vẫn nhớ về nàng, vẫn nhớ những bài hát và bàn tay dịu dàng vuốt tóc tôi khi ru tôi ngủ, vẫn nhớ anh Ngưu đáng thương trong kiếp bọt bèo của người làm công nghèo khổ. Chỉ mong, anh Ngưu và Bội Lan, hai mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống cuồng nộ, khe khắc  của làng Cối, có được những ngày hạnh phúc đến mãn đời. 


Hồ Xuân Ngọc




Wednesday, November 1, 2023

BÉ CẨM - TRUYỆN NGẮN HỒ XUÂN NGỌC ( CHUYỆN THẬT CỦA TÁC GIẢ)






 Bé Cẩm

 

Tuần lễ ma quỷ Halloween, xin đăng lại chuyện ma để các bạn cùng mất ngủ đêm nay.


CHUYỆN MA 


Bé Cẩm 


   Thường thì cứ mỗi tháng một đôi lần, tôi thức trọn đêm không ngủ được. Mỗi lần mất ngủ đầu óc lại miên man quay về kỷ niệm xa xưa khi còn trẻ. Đêm qua, cứ trằn trọc mãi. Bỗng chợt nhớ lại thật rõ, một câu chuyện rất huyền hoặc, lạ kỳ, không thể lý giải, xảy ra đã rất lâu ở Hội An, trong những ngày tôi còn long bong ở đó mà tôi đã trải nghiệm trong thời gian lưu lại thành phố này. Sáng, rời khỏi giường, tôi quyết định ghi lại câu chuyện ấy. Một phần, để tưởng niệm về cô bé tên Xê bên Cẩm Nam. Một phần, muốn mang câu chuyện đến với bạn hữu Hội An, để nhớ thêm về một Hội An thân thương có nhiều kỳ tích và để giải trí trong bối cảnh đáng buồn vì Corona virus. Cảnh báo: vị nào độc thân sống một mình, không nên đọc vào ban đêm (đùa thôi, không đến nỗi đáng sợ như vậy). Nào! chúng ta hãy bắt đầu vào chuyện, bạn nhé!

   Hồi ở Saigon quậy quá, học hành lem nhem, nên má tôi gởi ra ở với bà chị có chồng làm tiểu đoàn trưởng đóng quân ở Hội An để đi học. Năm ấy, tôi học lớp đệ nhất trường Trần Quý Cáp Hội An. Thường sau giờ học, cơm nước xong, tôi thả bộ xuống phố long rong cùng mấy thằng bạn trời đánh mãi đến khuya mới về. Nói là khuya, nhưng khoảng 10 giờ đêm lả ai về nhà nấy ôn bài vở, vì sắp tới giờ giới nghiêm. Lúc ấy, tôi học ban B nên chỉ lo về toán, lý hoá, bài vở không cần học thuộc lòng nhiều như các bạn ban A và C. Vả lại, tôi có tật hơi...làm biếng và lè phè, nên cứ đợi đến giờ chót mới cắm đầu, cắm cổ học thi. Thế nhưng, về việc dạo phố thì không hề bê trễ , nhưng không hẳn lúc nào cũng họp đủ nhóm bạn để đi. Cũng có hôm, chỉ mình tôi lang thang phố Hội một mình, vì chẳng có đứa bạn nào rảnh. Hồi ấy, thời kỳ chiến tranh, phố Hội về đêm không nhộn nhịp như bây giờ. Ngày thường, sau 8 giờ tối thì nguyên con đường Nguyễn Thái Học tối thui, chỉ sót lại vài căn nhà gần ngã tư Lê Lợi là còn mở cửa, khiến con đường tối vắng càng thêm buồn tẻ. Riêng đường Cường Để, suốt từ chợ, trước chuà ông Bổn, đến cuối đường xuyên chùa Cầu qua Cẩm Phô, thì sinh hoạt tấp nập hơn, nhờ ánh đèn từ những cửa hàng và nhà dân. Lộ trình thường nhật hàng đêm của tôi và mấy đứa bạn là gặp nhau trước chùa ông Bổn. Xong, thả bộ tà tà dọc Cường Để đến chùa Cầu, rồi hướng theo bờ sông Bạch Đằng đến chợ Cá. Từ chợ Cá, bọc ngược lên Nguyễn Thái Học, rẽ phải trên đường Lê Lợi trực chỉ ngã tư tiểu khu rồi...tan hàng. Cũng có khi tan hàng ở ngã tư nhà Đèn hay trước bịnh viện Hội An. Nói thì ngắn gọn, nhưng cũng mất nhiều giờ tàng tàng thả bộ. Đôi khi có tiền, thì bọn tôi ghé vào quán cà phê nhâm nhi nghe nhạc. Hoặc, có lúc, chỉ một mình, tôi lại ghé vào tiệm thuốc bắc Hoà Xương Đường, làm bộ mua ít cam thảo đề có dịp...cua cô gái xinh đẹp con ông chủ tiệm. Nói chung, đó là những ngày tất vui, với thú tản bộ quanh phố cổ đầy thú vị, đơn giản, mộc mạc thời bấy giờ, nhưng đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong ký ức thời còn trẻ của tôi ở Hội An.

   Tôi nhớ hôm ấy trời chập choạng tối, chẳng có tên bạn nào chịu ra tản bộ cùng. Thay vì đi theo lộ trình dạo phố định sẵn như mọi khi, tôi đổi ý đi về Cẩm Châu, băng qua chợ Cá dọc sông Thu Bồn. Thời đó, Cẩm Châu dân cư ít ỏi, qua chợ Cá không bao xa thì nhà cửa thưa thớt dần, nhường chỗ cho vườn cây và những bụi tre xanh um. Khi tôi thả bộ đến gần cuối con xóm nhỏ, không xa lắm, từ chợ Cá, thì thấy thấp thoáng trước mặt dáng của một cô gái độ 15, 16, mặc áo dài trắng, tóc thắt bím cột hai sợi nơ đỏ ngồi trên phiến đá cạnh bờ sông. Ngạc nhiên, vì không hiểu tại sao giờ này, trời nhá nhem tối, lại còn cô bé ngồi một mình bên bến sông, tôi bước đến gần nhìn cho kỹ. Nghe bước chân, cô gái quay lại nhìn tôi rồi nhoẻn miệng cười, lộ hai chiếc răng khểnh trên gương mặt bầu bĩnh. Mái tóc không dài lắm của cô bé được bím gọn, thả dài hai bên tai với hai chiếc nơ đỏ thắt cuối bím tóc, làm tăng thêm nét dễ thương trên  khuôn mặt đáng yêu.

   - Tối rồi...sao em còn ngồi đây? Tôi hỏi cô bé.

   - Em chờ tối mịt mới về- Cô bé trả lời với giọng vui vẻ.

   Tò mò, tôi hỏi tiếp và chỉ tay về ngôi nhà sau lưng gần đó, bên kia đường.

   - Nhà em đó hả?

   Cô bé che miệng cười khúc khích, chỉ về hướng bờ sông đối diện, trả lời:

   - Mô có! Nhà em bên tê, bên Cẩm Nam đó anh.

   Tôi ngạc nhiên, hỏi:

   - vậy...tối rồi đâu còn đò đưa em về?

    Thời điểm đó, Hội An qua Cẩm Nam phải đi bằng đò, không có cầu. Chiếc cầu bê tông do Công Binh xây nối bờ Cẩm Nam và Hội An, cạnh chợ Cá, còn dang dở chưa hoàn tất, chỉ trơ lên mấy trụ cầu chờ lắp nhịp.

   - Dạ, xí nữa em bơi qua sông- cô bé cười cười nhìn tôi.

   Nghĩ cô bé nói giỡn chọc mình. Tôi cười chọc lại:

   - Coi chừng ma da kéo chân đó em!

   Nghe tôi nói, nụ cười chợt tắt theo gương mặt biến sắc của cô bé. Đột nhiên, một luồng gió lạnh thổi lên từ mặt sông làm tôi khẽ rùng mình. Cô bé quay mặt nhìn xuống dòng sông đêm giọng khàn đục thoang thoảng theo cơn gió:

   - Ma sợ em thì có...mà...nghe giọng anh nói hình như không phải người Hội An mình?

   - Ừ, anh người trong Nam ra đây học. Hết niên khoá này sẽ không ở đây nữa. Hồi nãy anh dọa đùa em về ma da...anh xin lỗi nhen!

   - Dạ, không có chi mô anh. Nhưng câu nói của anh, làm em nhớ về một người trong dòng sông ni...mà thôi, anh người ở xa tới, có kể, chắc không biết chị nớ mô- cô bé hồn nhiên tươi cười trở lại, âm thanh có mòi thân thiện- nì...anh tên chi hỉ?

   Tôi nói tên mình cho cô bé nghe.

   - A...anh “Ngạc.” Em tên Cẩm.

   Nghe cô bé đổi tên “Ngọc” của tôi thành “Ngạc” theo cách phát âm địa phương làm tôi suýt bật cười, dù đã quá quen thuộc với lối phát âm này. Bé Cẩm chỉ vào mảng xi măng sức mẻ cạnh chỗ nó ngồi, nói với giọng rất tự nhiên, như thể chúng tôi đã quen biết nhau từ lâu:

   - Anh ngồi nói chuyện cho vui, xí về.

   Dòng sông đêm Thu Bồn đen thẫm. Thấp thoáng bên kia sông vài ánh đèn dầu leo lét chập chờn. Ngọn gió đêm xào xạc trên những tàng cây, như lời thì thầm của gió cho những chiếc lá đang khép lại trong màn đêm vừa xuống. Tôi khẽ rùng mình và nghe lành lạnh trong người khi ngồi gần cô bé. Trong một thoáng, tôi thấy mặt bé Cẩm bỗng trắng bệch nhợt nhạt trong bóng tối, lúc làn gió lạnh bất chợt thổi ngược từ mé sông phả vào. 

   - Chút nữa ai đón em về? Tôi lại hỏi bé Cẩm.

   - Ha...ha...em đã nói sẽ lội qua sông về nhà mà anh không tin hả? Nhà em ở cạnh sông. Ngay từ nhỏ em đã biết bơi rồi. Chừ thì lội giỏi lắm. 

   - Ba má em làm gì?

   - Cha mẹ em làm nghề cá. Nhiều khi đi biển hai ba ngày mới về. Cha mẹ cho em tiền đò qua sông đi học mỗi ngày. Nhưng thấy cha mẹ khổ cực, em chỉ đi chuyến đò buổi sáng để giữ quần áo khỏi ướt khi vào học. Còn chiều thì em lội về tiết kiệm tiền để  mua sách học. khỏi làm cực lòng cha mẹ.

   Nghe bé Cẩm nói, tôi thấy xót xa trong lòng. Một đứa bé mới lớn như nó đã hứng chịu nhọc nhằn. Trông gương mặt hồn nhiên, ngây thơ của nó mà thấy tội. Không để tôi hỏi thêm, bé Cẩm tiếp:

   - Chiều học về, em ghé nhà bạn bên Cẩm Phô học bài. Học xong, em gửi sách vở lại nhà nó để mai nó đem vào lớp dùm em.

   - Em học trường nào?

   - Trường nữ anh nợ! Anh biết trường nữ chớ? Trường nằm đối diện dinh tỉnh trưởng nớ!

   Tôi gật đầu:

   - Biết. Anh cũng ở gần đó. Mà nè...sao em không lội về sớm mà phải đợi đến trời tối? Bộ không sợ sao?

   Bé Cẩm bẻn lẻn cười:

   - Dị lắm anh! Trời sáng lội sông quần áo dính vào người dị lắm. Khi trước, có mấy bận em lội qua sông khi trời còn chạng vạng, gặp mấy ông ngồi câu cá trên ghe cứ nhìn em chằm chằm, rồi quay ghe thiệt lẹ chèo miết vô bờ. Từ đó, em phải đợi tối trời mới dám bơi qua sông. Nói anh nghe, đừng kể lại cho ai biết hỉ!

   - Làm sao em lội qua sông với chiếc áo dài lướt thướt đang mặc?

   Bé Cẩm hồn nhiên đứng bật dậy ôm bụng cười, thanh âm phát ra từ tiếng cười nghe lành lạnh rất lạ. Xong, nó kéo hai vạt áo dài quấn quanh bụng cột chéo lại, nói:

   - Cột như ri mới lội được anh Ngạc.

   Nói xong, nó bỗng nhẩy ùm xuống nước, xuống dòng sông đêm mang màu đen kịt đáng sợ. Tôi hoảng hốt gọi to tên nó, nhưng chỉ nghe tiếng cười khúc khích vẳng lại. Rồi, tiếng cười bỗng biến thành tiếng ùng ục, khằn khặc rợn người, và tắt lịm giữa khúc sông đêm vắng lặng. Tôi rùng mình như có ai đang chà cục nước đá vào da. Trong hoang mang, tôi chạy băng qua đường, hướng về nơi có người đàn bà đứng tuổi đang cầm chổi quét rác trước hiên nhà. Tôi lắp bắp nói:

   - Dì...dì...dì kêu hàng xóm giúp dùm. Có cô gái vừa nhảy xuống sông.

   Người đàn bà chau mày nhìn tôi:

   - Cô gái mô?

   - Cô gái thắt bím cột nơ đỏ, mặc áo dài trắng, ngồi ở bờ sông bên kia đường, nói chuyện với con lúc chạnh vạng. 

   Gương mặt người đàn bà chợt biến sắc. Run giọng hỏi:

   - Cậu biết hắn tên chi không?

   Tôi nói:

   - Nó nói nó tên Cẩm. Nhà bên Cẩm Nam.

   Người đàn bà lại run giọng hỏi tiếp:

   - Phải nó cười có răng khểnh và tuổi độ 15, 16?

   Tôi gật đầu:

   - Dạ!

   Người đàn bà lật đật nắm tay tôi, nói:

   - Con đứng đây đợi dì. Mô Phật...nam mô a di đà Phật...

   Bà quày quả bước vội vào nhà. Vừa đi vừa lẩm bẩm điều gì đó trong miệng. Ít phút sau, bà trở ra với bó nhang lớn ngun ngút khói cùng khuôn mặt khẩn trương. Chỉ tay về phía bờ sông nơi tôi ngồi với bé Cẩm, bà nói:

   - Con đi với dì qua bên nớ.

   Đến bờ sông, bà cắm bó nhang xuống đất cạnh hòn đá, nơi Cẩm ngồi, chấp tay xá xá vài cái, rồi nói thì thẩm điều gì trong miệng. Sau đó, kéo tay tôi đi ngược về nhà, dẫn tôi vào và ra dấu bảo tôi ngồi xuống ghế cạnh chiếc bàn gỗ cũ kỹ nơi phòng khách. Sau khi hỏi sơ qua thân thế tôi, bà nói:

   - Con cứ kêu dì là dì Năm. Con bé nớ tên là Xê, không phải Cẩm. Nó mất cách nay đã hơn hai năm, giữa khúc sông chỗ nớ. Nó là cháu kêu dì bằng cô, nhà bên Cẩm Nam. Cha hắn, thằng Đệ, là em trai của dì. Hồi nớ, mỗi ngày tới trường con Xê phải đi đò qua sông. Thấy tội quá, cô bắt nó ở nhà cô đi học cho tiện, nhưng nó nhất định không chịu. Một hôm, nó ở lại nhà bạn bên Cẩm Phô ôn bài thi đến tối mịt mới về. Ban đêm, chiếc đò nhỏ không gắn đèn bị ghe cá đụng giữa sông. Con bé rơi xuống nước mất tích. Hai ngày sau mới tìm thấy xác gần cửa Đại- dì Năm ngừng lại lấy tay chùi nước mắt, sụt sùi kể tiếp- sau đó, nhiều người câu cá lúc trời sâm sẩm tối ở khúc sông nớ, thường thấy nó mặc áo dài trắng bơi qua sông. Bởi vậy, khi nghe cháu nói, dì biết ngay là con bé Xê.

   Nghe dì Năm kể xong câu chuyện, tôi nổi gai ốc. Trên đời có lắm chuyện huyền bí khó thể giải thích. Tôi đi về mà lòng thật buồn. Nhớ lại câu chuyện dì Năm kể về cái chết tức tưởi của bé Xê, mà nước mắt cứ rưng rưng muốn khóc. Không cần biết em là Cẩm hay Xê, mong sao em không trở lại cõi trần này với cuộc đời bất hạnh đã qua. 

   Những ngày sau đó, có đôi lần, thỉnh thoảng vào buổi chiều, tôi ghé lại bờ sông, nơi, tôi và bé Cẩm ngồi. Hòn đá và miếng xi măng sứt mẻ vẫn còn đó, không gì thay đổi. Chỉ khác là có nhiều chân nhang cắm rải rác xung quanh. Tôi đứng tần ngần nhìn ra khúc sông Thu Bồn vẫn còn lấp lánh chút ánh nắng sót lại của chiều tà, lòng chỉ mong sao dòng sông hiền hoà này sẽ chẳng bao giờ phải cưu mang thêm một linh hồn, cùng thân xác bất hạnh nào nữa của con người. 

   Bẳng đi thời gian dài, vì bận ôn bài cho kỳ thi Tú Tài 2, tôi không còn ghé lại bến sông trước nhà dì Năm nữa. Bấy giờ tình hình chiến sự leo thang, Hội An bị pháo kích thường xuyên. Lệnh giới nghiêm vẫn được áp dụng trên toàn thành phố, từ 11 giờ đêm đến 4 giờ sáng. Khi đêm về, ai cũng hoang mang lo sợ. Vì vậy, nhóm bạn chúng tôi rất ít tụ tập dạo phố đêm như lúc trước. Thế rồi học mãi, ở mãi trong nhà cũng tù túng, tôi quyết định đi ra phố cho khuây khoả tinh thần, sau những ngày đêm miệt mài với công thức cùng con số. Tôi còn nhớ, hôm ấy thứ bảy, phố xá về đêm cũng nhộn nhịp. Lâu ngày không ra phố thấy lòng rất vui. Tôi đi suốt những con đường thân quen của Hội An, suốt nhiều con hẻm nhỏ với cả cõi lòng hân hoan của mình và cứ ao ước được đi hoài như vậy trong niềm vui ấy, quên cả thời gian. Cho đến khi đi về lại phố từ Cẩm Phô đến ngã tư Lê Lợi và Cường Để, thì chợt giật mình vì phố xá đã đóng cửa, đường vắng vẻ không còn bóng người. Nhìn đồng hồ còn 10 phút đến giờ giới nghiêm. Từ ngã tư này về đến nhà phải mất 15 phút đi bộ, chỉ có nước chạy cho nhanh mới kịp. Tôi cắm đầu chạy thật lẹ. Thanh niên còn sung sức, nên chưa đầy 5 phút tôi đã chạy đến trước ty Thông Tin trên đường Hoàng Diệu. Thấm mệt, tôi giảm tốc độ chạy tà tà dưỡng sức, vì cũng sắp đến nhà, chỉ cần quẹo phải trên đường Trần Hưng Đạo trước mặt, đi qúa trường Trần Quý Cáp một quãng ngắn là đến nơi. Lúc bấy giờ, đường Hoàng Diệu vắng vẻ không có người đi, chỉ còn một cô gái mặc áo dài trắng, vừa quẹo xe đạp từ Trần Hưng Đạo xuống Hoàng Diệu ngược chiều với tôi. Không thèm chú ý đến cô gái đang hối hả đạp xe về hướng chợ Cá, tôi cứ thong dong cất bước.

   - Anh Ngạc...-cô gái lính quýnh ngừng xe gọi to tên tôi với giọng mừng rỡ- em nè...Cẩm nè!

   Tôi giật mình dừng lại nhìn nó. Đúng là con bé Cẩm bên bờ dông dạo nọ. Một luồng hơi lạnh tỏa khắp người khiến tay chân tôi bủn rủn, muốn chạy mà không nhấc nỗi chân. Bé Cẩm nhìn bộ dạng thất thần của tôi, nhăn răng cười khúc khích, nói:

   - Chi mà sợ rứa? Bộ không nhận ra em sao?

   Không biết có phải vì đèn đường không đủ sáng, hay tại tôi hoang mang bấn loạn, mà khi nó cười, tôi thấy, hình như...hai chiếc răng khểnh của nó nhọn hoắc như hai cái răng nanh. Tôi lắp bắp:

   - À...à...bé Cẩm...

   Con bé lại cười, khuôn mặt tái nhợt dứơi ánh đèn đường cùng hai chiếc răng nanh bên khoé miệng:

   - Chu choa! Gặp anh em mừng quá! Nhưng gần đến giờ giới nghiêm rồi, em phải về cho kịp. Có dịp anh em mình nói chuyện nhiều hỉ! Chừ em về... à... suýt nữa quên. Cha mẹ em dọn về bên ni rồi, không còn ở Cẩm Nam mô. Hôm mô rảnh ghé nhà em chơi. Nhà mới xây nên chưa có gắn bản số. Từ nhà Đèn, anh cứ theo con đường nớ, đi miết xuống Cẩm Châu, tìm số nhà 181. Xong, anh nhìn qua bên kia đường là nhà em đó. Thôi, em về hỉ!

   Nói xong, nó hấp tấp đạp xe đi. Trước khi đi, nó còn quay đầu nhìn tôi, tươi cười khoe hai cái răng nanh, nói lớn:

   - Nhớ ghé nhà em hỉ! Đối diện với nhà số 181 nớ!

   Hú hồn, tôi co giò chạy thục mạng về nhà mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Trong đời tôi, có lẽ, đó là lần đầu tiên chạy nhanh đến thế.

   Mấy hôm sau, tôi cứ suy nghĩ, phân tích về lai lịch của bé Cẩm, về câu chuyện của dì Năm liên quan đến bé Xê. Cả hai đứa: Xê và Cẩm, có quá nhiều sự kiện trùng hợp, ăn khớp với nhau, mà dì Năm là nhân chứng khả tín trong cuộc. Dẫu biết rằng trong đời thường, có rất nhiều điều kỳ bí không thể lý giải được. Nhưng, trong trường hợp này: chẳng lẽ nào, Cẩm lại là hiện thân của bé Xê? Chẳng lẽ nào, tôi đã gặp Xê ở bến sông đêm? Và, cũng chẳng lẽ nào, tôi lại gặp Xê ở đêm về muộn bữa đó trên đường Hoàng Diệu? 

   Nhớ lại đêm gặp bé Cẩm, nó có cho tôi địa chỉ nhà ở Cẩm Châu, tôi quyết định xuống đó tìm hiểu sự thật. Một hôm giữa trưa, từ ngã tư nhà Đèn, tôi thả bộ về Cẩm Châu theo lời hướng dẫn của bé Cẩm. Đi theo con đường đất đã khá xa, nhà cửa thưa thớt dẩn, vẫn chưa đến số nhà Cẩm cho, dọc bên đường toàn vườn cây và những bụi tre xanh rậm rạp. Chột dạ, định bỏ về, thì thấy trước mặt có căn nhà nằm cheo leo bên lộ. Đến gần, thấy đúng số nhà 181, nhưng nhìn phía bên kia đường đối diện, theo lời Cẩm nói, thì chẳng có ngôi nhà nào mới xây cả, mà chỉ là khu vườn cỏ dại um tùm. Thấy tôi đứng tần ngần nhìn quanh quất, một ông già ốm nhom, từ trong căn nhà bước ra hỏi:

   - Chú kiếm chi?

   Tôi trả lời:

   - Dạ, con tìm nhà bé Cẩm. 

   - Cẩm mô? Con ai? Xóm ni mô có đứa nào tên Cẩm?

   Tôi giải thích, gia đình Cẩm bên Cẩm Nam mới dọn về đây. Và, theo lời Cẩm thì cha mẹ Cẩm mới xây nhà đối diện với căn nhà của ông. Ông già khẽ chau mày suy nghĩ rồi nói:

   - Chắc con Cẩm nớ cho sai địa chỉ rồi. Con thấy đó, mô có nhà nào bên nớ. Miếng đất nớ của thằng Đệ bên Cẩm Nam, mô có nhà cửa chi, chỉ đất trống cỏ mọc thấy sợ. Lâu lâu, hai vợ chồng hắn ghé lại làm sạch cỏ quanh mộ con gái chôn bên nớ, thắp vài nén hương rồi đi biệt. Thiệt tội! Con bé mới 16 tuổi, tội tình chi mà mất sớm như rứa?

   Tôi hồi hộp hỏi:

   - Cô bé đó tên gì, bác? Tại sao mất?

   Ông già thở dài, giọng buồn buồn:

   - Con bé tên Xê. Siêng học và hiền lắm. Nghe thằng Đệ, cha nó, nói lại là ban đêm con Xê đi đò về nhà, đò bị ghe cá đụng, té xuống sông chết. Thiệt tội...

   Nghe ông già kể, tôi thấy rợn cả người, tay chân nổi gai ốc lạnh toát. Ông già lại nói tiếp và chỉ tay về bụi tre lớn bên kia đường trên mảnh đất trống:

   - Sau bụi tre nớ là mộ của con Xê đó!

   Tuy có sợ trong lòng, nhưng sự tình cờ đã dẫn dắt đến đây, tôi cũng muốn viếng mộ bé Xê để tỏ chút lòng trắc ẩn của mình. Và biết đâu chừng, tôi lại có thể tìm thêm vài chi tiết liên quan đến sự liên hệ bí ẩn giữa hai cô bé Cẩm và Xê. Tôi ngẩn ngại hỏi ông già:

   - Con có thể qua đó viếng mộ bé Xê, được hong bác?

   Ông già vui vẻ gật đầu:

   - Được...được, để bác dẫn con đi. Cẩn thận, bên nớ gai góc nhiều lắm.

   Ông già dẫn tôi qua đường, lòn lách giữa mấy bụi gai. Một ngôi mộ đất đầy cỏ dại nằm lẻ loi, cô quạnh sau bụi tre. Bát nhang bằng sành sứt mẻ, còn sót lại vài chân nhang bụi bậm, cạnh tấm bia xi măng quét vôi trắng đã lở lói, bong tróc. Tôi bước lại gần nhìn cho rõ những dòng chữ sơn đỏ khắc trên tấm bia: NGUYỄN THỊ CẨM XÊ, HƯỞNG DƯƠNG 16 TUỔI, SINH NGÀY...MẤT NGÀY...

     

                    o O o 


   Năm 1973, tôi rời Hội An ra Huế học Luật. Trường Luật nằm trên đường Đồng Khánh, gần ga xe lửa. Vì trọ phòng trong Tôn Nhân Phú, nên mỗi ngày tới trường phải đi qua cầu Trường Tiền, qua đại học Văn Khoa, trường Quốc Học, và Đồng Khánh. Thời ấy vui lắm, ngày nào cũng được ngắm mấy cô học sinh Đồng Khánh thướt tha tà áo dài trắng, trên con đường đầy hoa phượng đỏ. Huế lúc nào cũng thơ mộng và đầy ắp những kỷ niệm đẹp trong tôi. Tôi vẫn nhớ mãi những con đường lãng mạn rợp bóng  cây, những cô gái Huế e thẹn dịu dàng với tà áo dài trắng thiết tha (nhớ giọng Huế thỏ thẻ răng mà thương chi lạ). Nhưng, chính những tà áo dài phất phơ thơ mộng của những o Huế ấy, đôi khi, lại khiến tôi nhớ về cô bé Cẩm huyền hoặc ở Hội An, nhớ về lần gặp gỡ cuối cùng đêm về muộn, cùng hai chiếc răng khểnh nhọn hoắc. Tất Cả, giống như một giấc mơ hư ảo không có thật, dù bé Cẩm đã xuất hiện như người thường, đã cười nói với tôi, đã tâm sự ngắn ngủi về một phần đời của nó.

   Dần dà, do bài vở quá nhiều, lại phải học thuộc lòng từng bộ môn phức tạp của các bộ Luật, hình bóng bé Cẩm cũng phai nhạt dần theo thời gian trong tôi. Giữa năm 74, má tôi bắt về lại Sài Gòn học, vì sợ những bất trắc xảy ra cho tôi giữa tình hình chiến sự gia tăng ngoài Quảng Trị. Tháng 4 năm 1975, miền nam thất thủ, đời sống xã hội bị đảo lộn mãnh liệt, nhiều gia đình tan nát vì sự thay đổi quá nhanh. Ai cũng nghĩ đến chuyện vượt biên, tìm đường chạy ra nước ngoài. Tôi có thằng bạn thân gia đình khá giả trên đường Lê Lợi, kế nhà sách Khai Trí. Trước 75, tôi và nó hay ngồi uống cà phê ở Caféteria ngay bồn binh Sài Gòn. Sau 75, đời sống xuống cấp, tụi tôi gặp nhau ở quán cóc ven đường, uống cà phê pha bo bo mưu chuyện vượt biên.

   Đầu năm 77, cũng nhờ nó mà tôi đi thoát trong chuyến tàu đêm ở Bình Tuy. Số nó không may, bị trắc trở trên đường xuống bãi, trễ hẹn, tài công nhổ neo bỏ lại thằng bạn tôi và gia đình nó. Chuyến tàu đi xuyên đêm trong cơn bão cấp 5. Tiếng người khóc vì lạc thân nhân, tiếng rên rỉ, ói mữa vì say sóng, như át cả tiếng giật mạnh của gió và sóng vỗ rầm rập vào mạn thuyền. Đàn bà, trẻ em, người lớn tuổi, được nằm dưới hầm tàu. Tài công cùng 5 thanh niên phụ lưới và tôi ở trên khoang, chèo chống cùng cơn bão. Ngày hôm sau, khi ánh mặt trời lên, chúng tôi đã vượt qua vùng bão, mặt biển bây giờ phẳng lì như mặt hồ. Ở đây, tôi không muốn nói nhiều về chi tiết của chuyến đi, sợ đọc giả sẽ càu nhàu “thằng ni bá láp, viết lằng nhằng” (thật ra, trước khi vô đề, cũng phải có đôi lời giải thích về: thời gian, không gian và sự liên kết đưa đến câu chuyện. Chính vì vậy, mà những “lằng nhằng, lòng vòng” ở trên sẽ mang đến cho đọc giả một khái niệm tổng quát, để mừơng tựơng về không gian và khung cảnh bao quanh trong đoạn cuối câu chuyện của bé Cẩm).

   Tàu chạy đã 3 ngày. Phận sự của chúng tôi (tôi cùng 5 người phụ lưới) hàng ngày là đưa nước và cháo (nấu với cá câu được trong ngày) xuống hầm tàu cho mọi người. Chiếc tàu hơi nhỏ nhưng số người đi không nhiều, chỉ khoảng trên dưới 30. Dưới hầm tàu âm ẩm tối, ai cũng phờ phạc, nhếch nhác, nhìn không ra người mà cũng chẳng giống ma. Ngày thứ tư, vào buổi tối, tôi ra mũi tàu ngồi hóng gió như mọi khi. Đêm ấy trăng sáng lắm, con tàu lướt êm trên mặt biển lấp lánh ánh trăng. Đang ngồi mơ màng nghĩ về tương lai vô định của mình, thì nghe tiếng gọi khàn khàn lẫn theo gió biển sau lưng:

   - Anh Ngạc...!

   Giật mình quay lại. Một cái đầu nhú lên từ hầm tàu, mái tóc bù xù. Cái đầu nhăn răng cười lộ hai chiếc răng khểnh nhòn nhọn, quen quen.

   - Cẩm nè. Bộ không nhận ra em sao?

   Nếu ở đất liền, có lẽ, tôi sẽ chạy, chạy nhanh hơn cả đêm cuối cùng gặp nó trước ty Thông Tin ở Hội An. Người tôi cứng như nước đá, muốn niệm chú trừ tà mà môi cứ lập bập không ra tiếng. Cái đầu nhấc lên cao dần rồi cả thân hình bé Cẩm đã sừng sững đứng trước mặt tôi. Nó quỳ xuống, bàn tay lạnh ngắt của nó bóp chặt tay tôi, giọng khàn khàn hoà theo gió biển nghe xa xôi rờn rợn:

   - Mấy hôm ni anh xuống hầm đưa đồ ăn. Lúc đầu em ngờ ngợ, nhưng sau đó nhận ra anh mà không dám kêu. Ai ngờ, hơn bốn năm rồi, anh em mình gặp lại nhau anh hỉ!

   Tôi run rẩy, lắp bắp:

   - Cẩm...thiệt là Cẩm hả?

   Bé Cẩm cười to, nghiêng mặt đến gần để tôi nhìn cho rõ:

   - Em nì...anh ni chi lạ! Lần mô gặp, anh cũng sợ, làm như em là...ma vậy.

   Khuôn mặt tái nhợt của nó dưới ánh trăng đêm, càng tăng thêm vẻ ma quái. Bé Cẩm lắc lắc hai cánh tay tôi, mặt nó áp gần sát vào mặt tôi, hai chiếc răng nhọn trong cái miệng tươi cười như sắp cắm vào cổ, cùng hơi thở của nó phà vào tai tôi. Thôi rồi, cú này chắc bỏ mạng giữa đại dương, uổng công thằng bạn cho mượn... 5 cây vàng vượt biên, không có cơ hội được hoàn trả. Ủa? Mả sao lọa rứa hỉ? Đã là ma thì làm gì có hơi thở? Tôi giật cánh tay khỏi bàn tay bé Cẩm. Rồi, nhanh như chớp, tôi...nhéo một cái thật mạnh vô má nó.

   - Ái da...-bị đau, bé Cẩm la lên.

   Tôi mừng rỡ cười lớn, nhái giọng Quảng của nó:

   - Khà...khà...nhéo rứa mới chắc ăn, hong thôi cứ nghĩ mi là “moa” miết.

   Bé Cẩm vừa xoa xoa má, vừa đánh vào vai tôi, nói:

   - Anh Ngạc ác chi loạ! Nhéo chi mà nhéo đau dữ rứa trời!

   Đêm đó, dưới ánh trăng bàng bạc, tôi và bé Cẩm ngồi trên khoang tàu nhắc chuyện ngày xưa. Mới đó mà đã hơn bốn năm rồi, bé Cẩm bây giờ đã là một thiếu nữ xinh đẹp, không còn là con bé nhí nhảnh lội sông năm nào. Nhớ đến buổi tối lần đầu tiên gặp nó ở bến sông, tôi hỏi:

   - Em còn nhớ đêm em lội sông về nhà?

   Bé Cẩm gật đầu. Tôi hỏi tiếp:

   - Sao ban đầu anh nghe tiếng em cười rất vui, mà sau đó lại đổi thành tiếng ùng ục nghe ghê quá?

   Bé Cẩm cười, vẫn tiếng cười trong trẻo ngày xưa:

   - Tối nớ, em lội ra một chút, quay đầu lại nhìn, thấy anh quýnh quáng chạy tới, chạy lui, quơ tay, quơ chưn kêu tên em, làm thất cười nên bị sặc nước. Bởi vậy nó mới phát ra tiếng ùng ục đó.

   - Vậy còn số nhà em cho ở Cẩm Châu? Anh xuống tìm nhà em, nhưng chỉ thấy ngôi mộ của người tên Xê.

   Giọng bé Cẩm chợt chùng xuống, buồn buồn:

   - Đêm nớ gần giới nghiêm, nhà còn xa, đường tối, em gấp về nhà nên cho anh lộn địa chỉ. Thay vì 381 thì lại cho anh số 181. Nguyên trước đó khi còn ở bên Cẩm Nam, thỉnh thoảng em ghé lại thăm mộ chị Xê, trước căn nhà 181, để thắp cho chỉ nén hương. Hồi chị Xê còn sống, nhà ở sát nhau, nên em thường chạy qua nhà chỉ chơi. Chị Xê thích bím tóc cột nơ đỏ nên cũng bím tóc em giống như chỉ. Sau này, khi chị Xê mất, nhiều người hỏi thăm ngôi mộ để đến viếng, em cho họ số nhà nớ. Nói miết thành quen miệng, nên tối hôm đó cho anh lộn số. Trên đường về sực nhớ ra, nhưng không thể quanh xe lại. Em biết anh học trường Trần Qúy Cáp, định đến cổng trường chờ anh để nói lại địa chỉ, nhưng làm rứa thấy dị quá, sợ nhiều người không biết, họ tưởng em là bồ anh. Phố nhỏ, đa phần biết nhau, họ mà đồn lên em đứng chờ anh ở cổng trường thì em chết mất.

   Tôi nói đùa;

   - Thì làm bồ anh cũng được có sao đâu?

   Bé Cẩm trề môi, lườm tôi:

   - Thôi đi...người anh hôi thuốc “loá” như rứa ai mà thèm. Chu choa! Đứng xa cả thước mà nghe mùi nồng nặc, còn hôi hơn thuốc Cẩm Lệ nữa.


                                  ***


   Thưa các bạn, câu chuyện đã được giải mã. Nếu không tình cờ gặp lại bé Cẩm trên chuyến tàu vượt biên năm đó, chắc suốt đời, tôi cứ mãi hoang mang về nó. Bởi vậy, đời sống có lắm điều kỳ dị, lắm điều trùng hợp lạ lùng, nếu không tìm ra sự thật sẽ tạo nên những hiểu lầm tai hại, đáng tiếc. 

   Trở lại chuyện bé Cẩm. Chuyến tàu đưa chúng tôi đến đảo Pulau Tenga vài ngày sau đó. Sau bốn tháng ở đảo, bé Cẩm được định cư ở Úc, còn tôi thì kẹt lại gần tám tháng sau mới đi Mỹ. Bé Cẩm đi rồi tôi buồn lắm, không còn dịp chọc cái giọng Quảng Nam  dễ thương của nó. Vậy mà chỉ ba tuần sau khi đến Melbourne, bé Cẩm gửi thư cho tôi, kèm theo 35 đồng đô Úc. Nó viết ngắn gọn “Anh Ngạc, nếu được đi Úc thì dọn về đây ở gần tụi em cho vui. Còn nếu anh đi nước khác, thì nhớ liên lạc với em theo địa chỉ ni. Em mới qua, còn đang đi học, chính phủ cho ít trợ cấp hàng tuần, em để dành được chút ni, của ít lòng nhiều, gửi anh mua thuốc hút... “Trời đất! Ba mươi lăm đô Úc ở thời điểm đó mà nó nói “của ít lòng nhiều?” Cảm động quá, tôi viết cho nó một bức thư dài lâm li, bi đát. Cuối thư , tôi tái bút một câu canh dờn như sau. “Cẩm à! Nhớ gửi thư đều cho anh nhen! Và cũng đừng quên kèm theo chút... “của ít lòng nhiều” để anh có đủ... năng lực hồi âm thư em. Kính bái… ý quên… thương chúc em nhiều sức khỏe, vui vẻ và lúc nào cũng nhớ anh. Anh Ngạc”


Hồ Xuân Ngọc