TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Sunday, July 26, 2026

LẤY CÁI NƯỚC - HỒ XUÂN NGỌC - TÀI NGUYỄN DIỄN ĐỌC

 

LẤY CÁI NƯỚC - HỒ XUÂN NGỌC - TÀI NGUYỄN DIỄN ĐỌC



https://youtu.be/fk0SzLnXrzY



LẤY CÁI NƯỚC - Chuyện ngắn HỒ XUÂN NGỌC (Chuyện trước 75)


Lấy CÁI NƯỚC
(chuyện trước 75)

   Cởi xong đôi giày bốt-đờ-sô, Prang tuột nhanh cái quần trây-di(quần lính) quăng lên bờ cỏ, rồi chạy lẹ xuống suối. Khi chạy đến độ sâu cỡ ngang thắt lưng, Prang nhoài người lặn luôn trong dòng nước mát dịu. Dưới ánh trăng đêm, những bọt nước bắn tung toé sau cú đạp mạnh của chân Prang, lấp lánh túa ra như những vẫy bạc trông thật lạ mắt. Vùng vẫy giữa lòng suối một hồi, Prang quay đầu bơi ngược vào bờ. Nó không thèm lên vội mà nằm dài nơi chỗ xâm xấp nước để tận hưởng cái cảm giác mơn man kỳ lạ của dòng nước đang trôi nhẹ vuốt ve trên thân thể nó. Prang không hiểu tại sao, nguyên một trung đội đóng quân ở cái đồn nhỏ heo hút giữa rừng này, chẳng có ai nhận thức ra sự tuyệt vời của cái thú tắm suối dưới ánh trăng đêm như nó. Đã bao đêm trăng sáng đẹp huyền ảo như vầy, Prang mở miệng mời, mà nào có ai thèm đi theo nó ra đây? Kể cả thằng Krong, người bạn Thượng duy nhất cùng chung trung đội cũng vậy. Lần nào rủ đi ra suối tắm, Krong cũng lắc đầu quầy quậy. Bộ nó quên hẳn gốc gác rừng rú của tổ tiên nó rồi sao?
   Prang xoay mình nằm sấp lại, mặt hướng về phía cổng đồn. Đèn trong doanh trại đã bật sáng choang. Giờ này chắc vợ của Prang đang chuẩn bị bữa ăn tối. Nhớ tới nhiệm vụ phải đi kích đêm nay, Prang đâm nản. Kích kiết con mẹ gì mà cứ kích hoài. Đồn lèo tèo có vài chục mạng, lại nằm sát biên giới Miên gần đường mòn “ông Cụ,” ngay trục chuyển quân của mấy vị chính quy từ miền Bắc đổ vào. Nói hỏng phải...trù, chỉ cần mỗi vị bộ đội đi ngang qua đây khạc một cục...đờm vô đồn, thì chỉ một đêm là trung đội của Prang đầu hàng vô điều kiện liền, chớ đừng nói gì tới chiện súng nổ đạn bay chi cho thất công. Còn cái vụ đi kích chỉ là bày đặt quấy qủa theo đúng nguyên tắc đề ra của cấp trên thôi, chứ kích kiết cái nổi gì?
   Nhớ hồi năm ngoái, khi Prang mới ôm ba lô về trình diện đơn vị này, mấy ngày đầu nó nào có biết ất giáp gì đâu? Hỏng hiểu tại sao mấy trự lính ngồi gác trên lô-cốt chẳng cảnh giác gì ráo trọi? Trự nào cũng ngủ gà ngủ gật, súng dựa vô bao cát, băng đạn để rời một bên. Đi kích thì hò hát um xùm. Tới bãi kích lại đốt một đống lửa thiệt bự, rồi cả đám hè nhau nằm ngủ khò cho tới sáng. Lính tráng gì kỳ cục vậy cà? Thắc mắc chưa dám hỏi thì Prang có liền câu trả lời vài bữa sau đó.
   Một buổi sáng vừa thức dậy, cầm cái khăn đi rửa mặt. Thì, trời mẹ ơi! Có phải vì hai cục ghèn làm mờ mắt nó hong? Mà, chình ình ngay cổng đồn một chiếc xe tăng T-54 ngạo nghễ đậu bít lối từ bao giờ. Sẵn mới ngủ dậy đương mắc...tiểu, lẫn cơn sợ rần rần trong người, thằng Prang chơi đẹp...tưới luôn trong quần hồi nào hỏng hay. Còn đương sớ rớ với cái quần ướt nhẹp thì tiếng kẻng tập họp đã đập liên hồi.
   Đợi cho trung đội tề tựu đầy đủ, thiếu uý Ngọc mới lừ đừ từ trong văn phòng bước ra, theo sau là năm vị bận đồ chính quy mặt mũi lạnh tanh. Năm cái nón cối bọc lưới có hình ngôi sao vàng sùm sụp trên những khuôn mặt tai tái thiếu ánh nắng. Lần đầu tiên trong đời lính, thằng Prang mới thật sự mặt đối mặt với mấy ông...kẹ này, tim nó đập thình thịch vì sợ, thiếu chút nữa là Prang lại...tưới thêm lần hai trong quần. Lạ cái là quanh nó, mấy thằng bạn lính cứ tỉnh bơ như hỏng có chiện gì xảy ra mới kỳ? Thiếu uý Ngọc dẫn năm vị bộ đội tới trước hàng quân của mình giữa sân đồn, rồi hắng giọng nói một cách dõng dạc:
   - Mấy anh cũng biết trung đội mình nằm giữa căn cứ địa của phe bên kia. So về lực lượng thì mình chỉ là hột cát trong cái sa mạc đầy tăng và bộ đội. Sở dĩ họ hong triệt hạ đồn mình vì sợ dính líu đến những khía cạnh chính trị hong có lợi cho họ. Do đó, đã nhiều lần họ gởi đại diện đến đây, để dàn xếp về những hoạt động của cả đôi bên trong vùng. Chính yếu là cả hai phía cùng cố gắng tránh gây khó khăn lẫn nhau trong địa hạt quân sự. Hôm nay, một lần nữa, họ lại đến minh định thêm một số thỏa hiệp ngầm đã được đồng ý trước đây. Xin nhường lời lại cho thượng uý sáu...Phèo.
   Người đàn ông trung niên mặt xương xẩu, bước hai bước ngang tầm với thiếu uý Ngọc. Ông đảo mắt nhìn lứơt qua khuôn mặt của hai mươi mấy người lính địa phương quân đương đứng thẳng băng từng hàng như lượng giá, rồi nở nụ cười chính trị đầy...tang tóc, nói:
   - Chào mấy em. Bữa nay “qua” tới thăm mấy em “đột xuất” như vầy, thiệt quấy quá! Hồi nãy, thiếu uý Ngọc có “phát biểu” sơ qua, chắc mấy em cũng hiểu. Để khỏi mất thì giờ, “qua” sẽ “khẩn trương khai triển” thêm một vài điểm mới trong hợp đồng của chúng ta. Thứ nhứt, về địa điểm đi kích của mấy em. Từ nay trở đi, mấy em đừng đốt lửa như vậy nữa, vì các đồng chí bộ đội đã biết rõ vị trí của mấy em rồi, họ sẽ hong đụng tới mấy em đâu. Sự nổi lửa giữa đêm tối dễ bị phát hiện bởi máy bay tuần thám của bọn Mỹ và điều đó sẽ làm lộ sự chuyển quân trong đêm của bộ đội chúng tôi. Thứ hai-thượng uý sáu Phèo chậm rãi gằn từng tiếng một- Từ nay, mấy em chỉ được sinh hoạt trong vòng ba trăm thước tính từ đồn. Ai vi phạm sẽ bị bắn hạ bởi bộ đội ta.
   Từ buổi sáng đó trở đi, Prang mới biết tại sao trung đội nó tà tà hỏng thèm canh gác gì ráo trọi. Rồi nó cũng quen luôn, hỏng còn sợ mấy ông thần mặt tái đó nữa. Nhiều khi, mấy ông mặt tái đói thuốc còn mò vô đồn xin chút...khói, loại khói “đít vàng” mới chịu. Rồi, còn ngồi cà kê dê ngỗng cả buổi mới chịu dzìa bưng. Vậy chớ trước khi tạm biệt, cũng ráng...chỉa thêm vài điếu “đít vàng” mới bịn rịn chia tay. Nói nào ngay, có qua thì có lại, nhiều khi mấy ổng cũng mời cả trung đội của thiếu uý Ngọc vào rừng coi cải lương dã chiến chớ nào phải không? Rồi cũng nhờ cái “hợp đồng” và tình nghĩa láng giềng đó, mà thằng Prang mới hưởng được cái thú tắm đêm nơi con suối này. Hong thôi, đố cha thằng nào dám mò ra đây, bộ hong muốn sống chắc?
   Nằm sấp một hồi dưới nước bị mấy viên sỏi cấn vô ngực, Prang lồm cồm ngồi dậy. Định lên bờ bận quần áo, thì từ cổng đồn vọng xuống tiếng gọi giựt giọng của thiếu uý Ngọc:
   - Prang...Prang...
   Prang lật đật xỏ quần thiệt lẹ, đáp lớn:
   - Thằng thiếu uý ơi! Prang về nè.
   Prang chạy tới cổng bị thiếu uý Ngọc điểm mặt:
   - Dặn hoài mà gặp ai cũng kêu thằng? Sao hôm trước gặp sáu Phèo hỏng kêu chả bằng “thằng” cho tao nghe thử?
   Prang cười giả lả:
   - Tại tui nói tiếng Việt hong rành mà...
   - Thôi...lẹ lên. Tụi nó đương chờ mày đi kích kìa.
   Prang chạy thiệt lẹ về phía dãy nhà thấp làm trại gia binh phía cuối đồn. Bước vô nhà thì thấy vợ nó ngồi một đống bên mâm cơm dọn sẵn trên bàn. Chẳng nói chẳng rằng, Prang sà xuống ghế đớp thiệt lẹ. Vợ Prang ngập ngừng, hỏi:
   - Tối nay mày hong đi kích sao Prang?
   Prang trệu trạo miếng cơm trong miệng:
   - Có chớ!
   Mắt con vợ thằng Prang sáng lên một cách kỳ lạ. Nó hấp tấp đứng lên kéo vẹt tấm màn ri-đô che giường ngủ, khum người lôi cái ba-lô dưới gầm giường để ngay chân thằng Prang. Rồi, vòng tay bá cổ Prang kéo sát vô bộ ngực bự như hai...trái mìn chống chiến xa của nó, nói:
   - Thôi, ăn lẹ đi-vợ Prang buông tiếng thở dài với vẻ tiếc nuối- Tao tưởng mày ở nhà, tính cho mày lấy “cái nước” tối nay.
   Đương ăn, bị con vợ chà hai trái...mìn vô mặt, ông nội thằng Prang có sống dậy cũng đứt...cầu chì tại chỗ, chớ đừng nói chi tới thằng Prang đương tuổi thanh xuân. Bởi vậy, đương nhai dở miếng cơm, Prang đẩy lẹ xuống cổ họng liền. Xong, nó luồn tay vô áo con vợ “chỉnh” nhẹ hai trái mìn cho đỡ ghiền. Prang nhe răng cười hềnh hệch, khoái trá:
   - Mày tốt quá “dơ” (vợ) ơi! Đợi tối mai, tao sẽ lấy “cái nước” của mày hai lần.
   Mằn mò cặp mìn một hồi, Prang đẩy nhẹ con vợ ra. Lùa nhanh miếng cơm chót, Prang quảy ba-lô gỡ cây súng M-16 treo trên vách mang vào vai. Trước khi đi, Prang còn tiếc nuối vỗ thêm vài cái vào cặp mông tròn ủm như hai cái...đít chảo của con vợ, rồi bước ra cổng đồn.
   Vừa thấy mặt Prang lò dò ra cổng, thiếu uý Ngọc quạt liền:
   - Mày làm cái gì đợi tiểu đội đi hết ráo rồi mới mò ra?
   Prang ấp úng:
   - Tại tui ăn cơm...
   Thiếu uý Ngọc xua tay:
   - Thôi đi đi...đi lẹ lên cho kịp với tụi nó.
   Prang có giò phóng lẹ qua cổng đồn, rồi biến dạng ở khúc quẹo của lối mòn nơi bìa rừng.
   Lầm lũi đi quanh co một hồi trên con đường mòn nhập nhoè bóng tối dưới những tàng cây, vẫn chưa thấy bóng mấy thằng bạn. Lựa bãi đất trống có ánh trăng, Prang ngồi xuống nghỉ mệt, đầu nó cứ miên man nhớ tới cặp vú của con vợ. Nói nào ngay, từ hồi bỏ rừng núi về kinh sống cuộc đời văn minh thành thị, con vợ Prang cũng học đòi chưng diện lẹ lắm. Cái xà-rông sặc sỡ được thay thế bằng chiếc quần mỹ-a đen bóng mướt rượt, rờ tới đâu mát mịn tới đó. Bộ ngực trần đen đủi ngày xưa, nhờ áo bà-ba che kín nên cũng nâu hồng hấp dẫn. Hồi còn ở trong rừng, nhìn bộ ngực trần trụi của vợ có bao giờ gợi cho Prang nỗi thèm muốn nào đâu? Vậy mà giờ đây, chỉ cần con vợ tháo nhẹ hột nút áo là thằng Prang xuất...mồ hôi hạn liền.
   Nói có thần Rừng làm chứng, hồi nãy nếu hong gì nhiệm vụ đi kích đêm nay, Prang đã “để” đẹp con vợ rồi. Ừ, mà sao lạ vậy cà? Cứ mỗi lần nó đi kích đêm thì con vợ lại hứa hẹn cho nó lấy “cái nước.” Đến đêm sau, khi nó xin lấy thì con vợ lại nằm sãi tay há miệng ngủ tỉnh bơ, hỏng thèm đáp ứng gì ráo. Hay tại để qua đêm nên con vợ bị...khô nước?
   Suy nghĩ một hồi, đầu óc mộc mạc của thằng Prang rối lung tung xèng. Nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc nó cũng nhớ tới hai trái mìn chống chiến xa của con vợ. Bức rức trong người, Prang nhắm mắt để trí tưởng tượng dẫn đi vòng vòng trên thân thể căng tràn múp rụp của con vợ đương nằm ở nhà. Chỉ mới mừơng tượng rà sơ vòng ngoài mà tay chưn thằng Prang đã muốn bắt...chuồn chuồn. Prang rùng mình đứng bật dậy, thay vì quảy ba-lô đi tới bãi kích, nó hùng dũng quay ngược về đồn. Kệ mẹ thằng thiếu uý, Prang phải giải quyết chiện “nước nôi” với con vợ cái đã.
   Giờ này mấy bóng đèn trên lô-cốt đã tắt ráo hết, cổng đồn cũng có bao giờ đóng đâu? Lời bảo đảm của thượng uý sáu Phèo chắc như đinh đóng cột, cần gì phải canh gác chi cho thất công? Sợ là sợ thiếu uý Ngọc bắt gặp nó trở về đồn thì quấy qủa cuộc đời thôi, chứ Prang có sợ chi ai? Giờ này ai nấy đã ngủ khò, hỏng lẽ thiếu uý Ngọc còn đứng ngắm trăng ngoài cổng? Bộ ổng khùng chắc? Bởi vậy thằng Prang lướt êm qua sân đồn nào có gặp ai đâu?
   Tới trước nhà Prang đi thiệt nhẹ, nó muốn dành sự ngạc nhiên bất ngờ cho con vợ. Tối nay, Prang cương quyết sẽ “cố gắng” lấy hết “cái nước” của con vợ để khỏi bỏ công mạo hiểm lặn lội trở về. Nó bước sát tới cánh cửa gỗ, nhè nhẹ rút lưởi dao găm đeo bên hông rồi luồn vào khe hở nơi có cái móc gài phía trong. Hất khẽ cái móc, Prang đẩy cửa lách mình vào. Bất chợt, nó bỗng khựng lại vì có tiếng rù rì vẳng ra sau tấm màn ri-đô bao quanh cái giường của vợ chồng nó. Rồi có tiếng mút chùn chụt lẫn giọng rên nhè nhẹ của vợ thằng Prang. Lấy làm lạ, Prang với tay bật công tắc đèn rồi vẹt mạnh tấm màn ri-đô.
   Mèn đét ơi! Ai như thằng Krong đương lom khom trên bụng con vợ nó vậy cà? Cảnh tượng bất ngờ làm Prang đứng chết trân như trời trồng. Ai mà ngờ cái thằng bạn thân thiết ở cùng bản làng, cùng đơn vị, lại thừa lúc Prang hong có ở nhà, nhào vô...đẽo con vợ nó ngọt xớt như vậy? Prang lớ quớ chưa biết tính sao, thì Krong đã nhanh chưn nhảy lẹ xuống giường chuồn biến ra cửa. Prang tần ngần nhìn theo cặp mông xám xịt của thằng Krong lờ nhờ mất hẳn vào bóng đêm ngoài cửa mả giận tím ruột. Nó hầm hầm quay lại ngó con vợ còn nằm ngửa trần trụi trên giường.
   - Sao mày để cho nó lấy “cái nước”?
   Vợ thằng Prang vẫn nằm tênh hênh trên giường, trả lời tỉnh bơ:
   - Tại mày hỏng chịu lấy thì tao cho thằng Krong.
   Dòm thấy cái quần xà-lỏn của Krong nằm lăn lóc trên sàn nhà, Prang định lấy chưn đạp lên. Thì, bỗng đâu, Krong đã xồng xộc từ bên ngoài chạy vào, tay còn bụm chặt bộ...đồ nghề của nó, cặp mắt trắng dã láo liên nhìn quanh quất, miệng lắp bắp:
   - Cái quần...tao để quên cái quần.
   Prang nỗi nóng co giò đạp một cái thiệt mạnh ngay mông thằng Krong làm nó ngã chúi vô vách. Quên Cả đau, Krong phóng tới chụp lẹ cái quần rồi phóng biến ra cửa. Lần này, cặp mông xám xịt của nó như bị...méo qua một bên vì cú đạp thần sầu đầy phẩn nộ của Prang.
   Thằng Prang làm dữ sau cái đêm bắt tại trận vụ chim chuột của con vợ. Người Thượng vốn theo chế độ mẫu hệ, quyền uy của vợ lớn hơn chồng. Cho nên, dù tức giận, Prang cũng hỏng dám thượng cẳng chưn, hạ cẳng tay với con vợ. Ngược lại, nó trút mọi uẩn ức lên đầu thằng Krong, kẻ đã lấy “cái nước” của con vợ nó. Nội vụ được Prang trình lên thiếu uý Ngọc. Trên cương vị của một trung đội trưởng, và theo hệ thống quân giai, thiếu uý Ngọc phải đánh công điện trình lên trung uý Vui trưởng phòng an ninh quân đội ở chi khu Lộc Ninh nhờ giải quyết. Lúc bấy giờ, sự liên lạc giữa trung đội của Ngọc với chi khu Lộc Ninh hoàn toàn dựa vào hệ thống vô tuyến điện, và một phi vụ trực thăng mỗi tháng đáp xuống đồn tiếp tế lương thực, bưu tín, luôn tiện bốc theo những người lính nghỉ phép hoặc đau ốm. Do đó, trong khi chờ đợi chuyến bay tiếp tế để giải giao bộ ba: Krong, Prang, và vợ xuống phòng an ninh quân đội ở Lộc Ninh, thì Prang và Krong được tách rời nhốt riêng mỗi đứa một nơi, để tránh những đáng tiếc có thể xảy ra.
   Chiếc trực thăng thả vợ chồng Prang và Krong xuống sân vận động Lộc Ninh vào xế trưa. Một chiếc xe Jeep đợi sẵn trên sân cỏ chở thẳng bộ ba về phòng an ninh. Cả ba đựơc đưa vào căn phòng vuông vức bít bùng sơn màu xám, có cái bàn gỗ giữa phòng và bốn chiếc ghế chung quanh. Bóng đèn tròn có chụp màu xanh lá cây, treo tòn teng bằng sợi giây điện từ trần nhà, chỉ đủ rọi sáng phạm vi mặt bản, phần còn lại của căn phòng là bóng tối lờ nhờ đáng sợ. Mặc dù việc thưa kiện của Prang thuần tuý dựa trên tình cảm, hong dính dấp gì về vấn đề an ninh chính trị, nhưng sao vô tới đây, hỏng riêng gì thằng Prang mà Krong cũng thấy ớn lạnh, chỉ có con vợ Prang là mặt mày tỉnh bơ, nhơn nhơn như chỗ không người. Ba đứa còn đương đứng xớ rớ, thì cửa phòng bật mở.
   Trung uý Vui trưởng phòng an ninh, người cao lớn bệ vệ, tay ôm xấp hồ sơ cùng hai ngừơi lính bước vào. Bộ mặt của trung uý Vui hỏng vui chút nào so với cái tên cúng cơm đầy...hoan lạc của mình. Chỉ mấy cái ghế, Vui nói:
   - Mời quý vị ngồi.
   Đợi ba người an tọa xong, Vui ra dấu cho hai người lính lui ra khỏi phòng rồi ngồi xuống trên chiếc ghế còn lại. Lướt qua chồng hồ sơ để trên bàn, trung uý Vui hất hàm hỏi Prang:
   - Đầu đuôi ra sao? Anh thuật lại cho tôi nghe thử.
   Prang sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, chỉ ngón tay vào Krong, nói với giọng run run:
   - Cái thằng Krong này xấu lắm thằng trung uý ơi! Nhằm lúc tui hong có ở nhà, nó vô lấy “cái nước” của con “dơ” tui.
   Nghe giọng nói lơ lớ của Prang, Vui suýt bật cười. Cố giữ bộ mặt nghiêm nghị, Vui hỏi:
   - Lấy “cái nước” là lấy gì?
   Prang chập hai bàn tay lại làm động tác nhịp lên nhịp xuống, giãi thích:
   - Thằng Krong nó nằm trên mình con “dơ” tui rồi...phịch lên phịch xuống như vầy nè thằng trung uý.
   Ráng kềm mà Vui cũng phải bật cười vì lối giải thích quá cụ thể của Prang. Vui hỏi:
   - Anh bắt gặp tại trận hả?
   - Chứ sao không. Trời ơi! Nhớ tới cái mông của nó, tui còn giận quá mà.
   Trung uý Vui vỗ vai Prang an ủi:
   - Thôi được rồi, chuyện đâu còn có đó. Krong đã làm bậy thì tôi sẽ phạt nó theo quân pháp, anh cứ yên chí-quay sang Krong, Vui hỏi- Còn anh, tại sao anh... lấy “cái nước” của vợ Prang?
   Krong đi lính đã khá lâu, trứơc Prang nhiều năm nên tiếng Việt rất sành sỏi, nó xấu hổ cúi mặt nhìn xuống đất, giọng nghe yếu xìu:
   - Đâu có, tui đâu có lấy cái gì của vợ Prang?
   - Prang nói nó bắt tại trận anh đang nằm trên bụng vợ nó.
   Krong ngước mặt lên, nói với giọng qủa quyết:
   - Có...có...nhưng lấy chưa được. Trời ơi! Chưa có lấy mà...
   Vui dọa:
   - Anh phải thành thật khai rỏ nội vụ. Nếu giấu diếm thì tội sẽ nặng gấp đôi.
   Nghe hù bị phạt gấp đôi, Krong sợ hãi ngó Vui, rồi quay qua liếc khẽ con vợ Prang. Nó ngập ngừng kể:
   - Bữa đó Prang đi kích, nên vợ Prang rủ tui qua nhà chơi. Nằm trên giường nói chiện với nó một hồi tay tui...ướt nhẹp hết trơn. Thiệt tình, tui hong muốn lấy “cái nước” của vợ thằng Prang, nhưng vợ nó hối tui lấy lẹ lẹ hong thôi để lâu “nứơc” khô uổng lắm.
   - Sao hồi nãy anh nói chưa có lấy-Vui gặn.
   Krong thiệt thà :
   - Chưa có lấy thiệt mà! Mới lom khom tính lấy thì thằng Prang về tới. Làm sao tui lấy được? Nói có thần Rừng lảm chứng, Thẳng em tui còn chưa kịp...”khóc ngoài quan ải” nói chi tới chiện đút đầu vô trỏng kiếm nước?
   Mắc cừơi vì lối dùng chử sặc mùi lính tráng của Krong, trung úy Vui khoát tay ngăn không cho Krong nói nữa, Vui hỏi vợ Prang:
   - Tại sao có chồng mà chị còn tư tình với Krong?
   Vợ Prang không chút ngượng ngùng, trả lời tỉnh queo:
   - Tại cái thằng Prang này yếu quá! Lần nào lấy “cái nước” nó cũng lấy có nửa chừng rồi nằm lăn ra ngủ. Đương phê mà bị đứt...phim, sao tui chịu được?
   Quay mặt nhìn ra phía sau để giấu nụ cười, Vui hỏi tiếp:
   - Cái đêm Prang trở về bắt gặp chị và Krong trên giường, Krong đã lấy “cái nước” của chị chưa?
   Vợ Prang lắc đầu, trả lời cộc lốc:
   - Chưa. 
   Trung uý Vui hướng sang Prang:
   - Dù Krong chưa lấy được “cái nước” của vợ anh, nhưng Krong và vợ anh đã xác nhận có tư tình với nhau. Bây giờ tôi sẽ gởi Krong qua quân cảnh Tư Pháp tạm giam chờ ngày truy tố ra toà vì tội thông dâm(tội hình sự theo luật Hồng Đức). Phần vợ chồng anh, hãy tự giải quyết chuyện tình cảm của gia đình mình. Nếu như hai người quyết định ly hôn, thì anh được miễn trừ trách nhiệm chu cấp tài chánh cho vợ anh, vì anh không có lỗi, không vi phạm luật hôn nhân dựa trên bộ Dân Luật tố tụng về Hôn Phối của chính phủ. Ngày mai tôi sẽ xin tiểu khu cho chuyến bay chở vợ chồng anh về lại đơn vị. Hai người còn có yêu cầu gì nửa không?
   Prang vụt đứng lên phản đối:
   - Thằng trung uý xử vậy là hỏng được. Krong phải bồi thường cho tui.
   - Bồi thường cái gì? Krong phạm tội thì ở tù, nó đâu có lấy tiền lấy bạc hay làm thiệt hại tài sản gì của anh mà đòi bồi thường?
   Prang hùng hổ:
   - Theo tục lệ của bản tui, tư tình với “dơ” người trong Bản thì phải đền một con trâu, hai con heo, mươi con gà, và hai ký muối. Nếu thằng Krong hong đền, tui còn mặt mũi nào về bản cúng thần Rừng?
   Nghe vậy, Krong nhìn trung uý Vui với cặp mắt van xin:
   - Trung uý ơi! Làm ơn cho tui ở tù đi. Bắt tui đền nhiều như vậy, tiền đâu mả có? Thằng Krong này nghèo lắm.
   Vui nạt:
   - Ai biểu nghèo mà ham vui thì ráng chịu.
   Krong nhăn nhó:
   - Vui? Chưa gì đã bị đạp vô đít đau thấy...tù trửơng, còn bị...táo bón hết mấy ngày. Đã vậy, chút xíu nữa là thằng Krong này mất toi cái quần xà-lỏn rồi.
   Suy nghĩ giây lát, trung uý Vui mệt mỏi cầm xấp hồ sơ đứng lên:
   - Thôi, tôi cho quý vị nửa tiếng để dàn xếp với nhau. Dù gì cũng là anh em chung đơn vị, cùng bản làng. Nếu Prang ký đơn bải nại vì  Krong đồng ý bồi thường theo yêu sách của Prang, thì tôi sẽ trả Krong về lại đơn vị khỏi đi tù. Khi nào thỏa thuận xong ra ngoài gặp tôi.
   Hỏng biết thằng Krong mặc cả như thế nào, mà cuối cùng con trâu biến mất trên văn bản bải nại của Prang. Yêu sách đòi bồi thường chỉ còn lại hai con heo, mười con gà, và hai ký muối. Đối với Prang và phong tục của bản nó, thì sự đền bù đó là một niềm hảnh diện, một thắng lợi mỹ mãn cho bên nguyên cáo. Vì vậy, mặt mày vợ chồng Prang hớn hở ra phết, chẳng bù với thằng Krong, nó rầu rầu như mới vừa đưa đám ma...ông già nó. Phải chi lấy được chút “nước” thì đền cũng cam, đằng này thằng “em” còn nằm xa lắc ngoài “quan ải” mà phải chi cả đám...gia súc như vậy, thiệt ngặt hết sức.
   Nói nào ngay, người Thượng họ thật thà chất phác lắm, hỏng hứa thì thôi, mà đã hứa là giữ y chang như vậy, hong có vụ lươn lẹo nuốt lời. Thằng Krong về lại đơn vị nhịn đủ ba tháng lương đền thẳng băng cái một cho vợ chồng Prang. Krong thề độc với thần Rừng từ nay cho tới già, hong còn dám léng phéng đi chùa lậu “nước” nôi của thiên hạ nữa.
   Nếu chuyện chỉ có vậy, thì trung uý Vui đâu phải thỉnh thoảng thức giấc nửa đêm bật cười khan vì mơ thấy thằng...Prang? Chẳng là, sau khi giải quyết êm đẹp vụ thưa kiện của Prang, Vui cũng quên luôn tụi nó. Chiến cuộc ngày càng sôi động còn biết bao nhiêu việc quan trọng cần làm. Bữa thì điều tra vụ nổ súng chết người; bữa thì lấy khẩu cung tù binh; hôm thì làm ăn-kết mấy vị quân nhân ba gai nhậu say bỏ lựu đạn vô ly bia làm chết mấy em gái hậu phương trong quán bia ôm. Ôi! Đủ thứ ta bà ân oán chứ nào phải giản đơn?
   Bởi vậy, như đã nói ở trên, nếu thằng Prang trở về sống bình lặng nơi đơn vị “khỉ ho cò gáy” của nó giữa rừng sâu, thì trung uý Vui đâu có phải giựt mình thức dậy nửa đêm cười trẹo họng như vậy?
   Một bữa trưa, khi chiếc trực thăng tiếp tế tiền đồn vừa đáp xuống sân vận động Lộc Ninh. Thì, từ trong lòng tàu thằng Prang nhảy xuống cái rột, nó cắm đầu chạy một mạch vô tiểu khu rồi xông thẳng vào phòng an ninh quân đội của trung uý Vui. Nhằm giờ nghỉ trưa,  đương ngồi nặn...mụn làm sạch...mặt để chiều nay đi gặp bồ, mà thằng Prang xồng xộc đút đầu vô, đố cha thằng nào hỏng tức? Nhận ra thằng Prang, Trung uý Vui hất bộ mặt lạnh tanh hằn đầy vết...móng tay, quạt liền:
   - Ai cho anh vô đây? Bộ muốn ở tù hả? Biết giờ này giờ gì hong?
   Thấy trung uý Vui nỗi giận, Prang lính quýnh nói:
   - Xin lỗi thằng trung uý. Tui biết giờ này là giờ thằng trung uý lấy cái...mụn ở mặt. Nhưng...
   Vui xua tay:
   - Hỏng có nhưng nhị gì ráo. Ra ngoài để tôi nặn mụn...ý quên...để tôi làm việc.
   Prang mếu máo:
   - Tui có chiện quan trọng lắm, thằng trung uý ơi...
   - Ê...ông trung uý nhen! Hỏng có “thằng trung uý” nữa à! Bộ vợ anh bị thằng nào lấy “cái nước” nữa sao?
   Mắt thằng Prang sáng lên:
   - Sao ông trung uý biết?
   Thấy bộ mặt thật thà ngớ ngẩn của Prang, Vui bật cười và nói đùa với nó:
   - Thì người nào lấy “cái nước” của vợ anh, cứ bắt nó bồi thường giống như Krong là xong chuyện, cần gì phải kiếm tôi?
   Prang khổ sở vò đầu:
   - Có, nhưng tụi nó trả...giá quá.
   Vui ngạc nhiên:
   - Bộ nhiều lắm sao mà anh nói “tụi nó”?
   Prang đáp:
   - Gần nửa trung đội lận.
   Trung uý Vui trợn mắt nhìn thằng Prang:
   - Anh nói “gần nửa trung đội” lấy “cái nước” của vợ anh?
   Prang buồn bả gật đầu:
   - Tụi nó nói ở giữa rừng lãnh lương hong có chỗ xài, nên đưa hết cho tui để xin “cái nước” của con “dơ” tui giống như Thằng Krong vậy. 
   - Vợ anh có đồng ý bán “cái nước” hong? Vui hỏi.
   Prang hậm hực trả lời:
   - Có. Nhưng tụi nó nói con “dơ” tui bị lấy hết “nước” nên bây giờ khô queo. Vì vậy tụi nó chỉ chịu trả nửa giá thôi.
   Vui phì cười, giỡn:
   - Nếu vợ chồng anh chịu giá thì làm, hong thì thôi. Thưa gởi cái nỗi gì?
   Prang phân trần:
   - Hỏng phải vậy. Tui chịu chứ sao hong. Có điều, sau này tụi nó hết tiền nên ký...sổ nhiều quá. Tui đòi hoài hỏng đứa nào chịu trả, nên mới chạy ra đây kiếm ông trung uý xử dùm.
   Chiếu theo Quân Pháp, thằng Prang mang tội nặng nhứt, vì nó là chủ chứa; thứ đến là thiếu uý Ngọc đã hong kiểm soát chặt chẻ lính tráng dưới quyền để xảy ra chuyện bê bối trong đơn vị; sau chót là mấy tay quân nhân ký sổ nợ với vợ chồng Prang. Nhưng, xét vì đơn vị của thiếu uý Ngọc nằm ngay miệng cọp, nơi địa đầu giới tuyến, cực khổ gian nan, nên cấp trên cũng vu vi phạt lấy lệ mỗi người “tám củ” trong quân bạ.
   Chuyện tưởng êm, ai dè kết cuộc lại bất ngờ hết sức. Chẳng, thằng Prang đầu óc thiệt thà như đếm, nó hỏng hiểu tại sao bán “nước” của con vợ hong lấy được tiền còn bị quở trách trong hồ sơ quân bạ? Khối óc đơn giản chất phác của nó nghĩ hoài mà hong tìm được câu trả lời. Nghĩ thét rồi máu rừng xanh nổi lên làm nó chạm dây đầu. Ai đời, nửa đêm, nó cột cứng con vợ trên giường, rồi rút lưỡi lê nhắm ngay mạch “nước” của con vợ thẻo một miếng ngọt xớt. Chẳng thèm nhìn tới con vợ nằm dở chết ngay đơ trên giường, nó cầm miếng da còn dính chùm lông vừa thẻo đựơc của con vợ, lủi vào bóng đêm trốn biệt vô rừng.
                           ooo
   Tưởng thượng uý sáu Phèo là người may mắn. Đương lúc cần bổ xung quân số, lại nhận đựơc một thằng lính “ngụy” giác ngộ cách mạng trốn ngược vô rừng xin gia nhập bộ đội mà hỏng tốn một lời động viên nào hết. Ai dè, nhận cái thằng giác ngộ, “chiêu hồi” ngược này rồi, mới vỡ lẽ ra là nó bị...mát dây. Mỗi lần nhìn thằng Prang, cổ đeo một miếng da khô còn dính lưa thưa vài sợi...lông, đi tới đi lui, múa tay múa chưn cười khan một mình, là thượng uý sáu Phèo muốn...đạp một cái cho chết cha nó cho rồi. Nhưng thôi, lỡ nhận thì phải nuôi. Biết đâu chừng ăn hoài “bo bo” cùng bồi dưỡng với thần dược “Xuyên Tâm Liên” có ngày nó hết...điên, thì cách mạng được nhờ sao?

Hồ Xuân Ngọc



Monday, July 20, 2026

HỘI AN (會 安) 2005 - TRUYỆN NGẮN - HỒ XUÂN NGỌC (EM TRAI ÚT của TVX)

 

HỘI AN (會 安) 2005 - TRUYỆN NGẮN - HỒ XUÂN NGỌC


HỒ XUÂN NGỌC 1973


HỘI AN (會 安)
2005
 
Cứ mỗi lần định tọa mông xuống ghế cho đỡ mõi, thì y như rằng chiếc xe lại tuôn qua những ổ gà nằm sắp lớp trên mặt lộ, làm dội bắn cả người. Suốt đoạn đường dài ngót ngàn cây số từ Sài Gòn ra Hội An, chưa bao giờ tôi được an tọa một cách thoải mái quá hai giây...rưỡi. Cứ nhỏm lên ngồi xuống. Lại nhỏm lên...như thể đang cỡi trên lưng con tuấn mã vượt ngàn dặm sơn khê về quê...vợ.
Thật đấy. Hội An là quê của bà xã tôi. Tôi gặp bã ở đó rồi cột chặt đời mình với bã, cùng những thương nhớ nồng nàn cho phố Hội. Cũng vì sự thiết tha, nôn nóng muốn nhìn lại nơi chốn đầy kỷ niệm của ngày xưa, sau hai mươi mấy năm lìa xa, nên tôi tạm quên đi những dằn xốc trên con đường thăm thẳm dợn sóng đầy ổ gà.
Cứ mỗi lần xe nhồi lên thì anh tài xế lại hỏi: "Mệt chưa? Hay ta ngừng lại nghỉ một chút nhé!" Rồi nhìn tôi với vẻ ái ngại, như thể anh đang thay mặt cho con đường mà xin lỗi tôi vậy. Có lần, như để chửa thẹn, anh lại nói đùa: "Nếu đếm những chỗ lồi lõm, cộng thêm ổ gà lớn nhỏ trên đường từ Sài Gòn ra Hội An, thì chắc cũng nhiều bằng sao trên trời anh nhỉ!" Theo tôi, anh đùa có hơi quá đáng. Có lẽ một nửa thì chính xác hơn.
Từ ngã ba Vĩnh Điện vào Hội An, con đường còn tệ hơn. Chiếc xe 12 chỗ ngồi như muốn rã ra từng mảnh, khi trường qua những ổ...voi to tướng trên mặt đường. Không phải chỉ riêng tôi bị chúi dập đầu vào băng ghế trước, mà cả cái máy quay phim cũng hờn dỗi nhảy bộp xuống sàn xe. Cũng may, con đường không dài lắm và ngã ba Tiểu Khu đã thấy trước mặt kia rồi.
Tôi đến Hội An đúng 9 giờ sáng sau một ngày đêm dong ruổi. Thật khó mà tả được cái cảm xúc bồi hồi lúc đặt bước chân đầu tiên lên lề đường Lê Lợi. Tôi giương to lồng ngực hít một hơi đầy ắp cái không khí Hội An thân thương vào buồng phổi mà nghe đã từng thớ thịt. Định...hít thêm vài cái nữa, thì anh Lương, chủ khách sạn Thanh Bình bên kia đường, đã phóng vụt qua như ánh điện xẹt kéo tay tôi vào khách sạn.
Ba chục đô một đêm. Cũng không tệ cho một nơi nghỉ ngơi sạch sẽ khang trang và thân tình. ngay đường phố chính Lê Lợi. Nơi, chỉ cần bước ra sẽ thấy ngay một Hội An nhộn nhịp trải dài trên đường Lê Lợi đến tận bờ sông Thu Bồn. Hãy nghe anh Lương, nhà kinh doanh trẻ tuổi của phố Hội, người không bao giờ phí phạm một giây để chụp những cơ hội làm giàu (như đã chụp tay tôi lúc vừa xuống xe), tâm sự:
-Hội An mình chừ vui lắm! Nhờ khách du lịch vô đông nên đời sống thoải mái hơn xưa. Trước đây vui nhất là đường Cường Để (đã đổi thành Trần Phú). Chừ Lê Lợi lại là nơi đông đúc buôn bán sầm uất nhất thị xã. Xí nữa trời tối, anh ra trước khách sạn sẽ thấy những sinh hoạt rất dễ thương của Hội An về đêm.
Thật vậy, khi đêm xuống, Hội An không thiếu những ánh đèn màu. Trên mấy giàn bông Giấy đã nở rộ trước cửa những căn nhà dọc theo bờ sông Thu Bồn, dãy đèn màu nhấp nháy chen kẽ giữa những khóm hoa đỏ thắm, tô điểm thêm sắc thái dịu dàng cho những dãy bàn ghế sắp dài bên vệ đường. Từng nhóm, từng nhóm du khách nước ngoài nhàn du hớp từng ngụm bia, lim dim tận hưởng luồng gió mát mơn nhẹ từ mặt sông Thu Bồn lấp lánh, diễm ảo dưới ánh đèn. Và, nếu có một vầng trăng, thì bức tranh đêm của phố Hội, bên dòng sông Thu Bồn, sẽ không có bức mực nào có thể tả hết sự tuyệt mỹ của nó
Đêm đầu tiên ở Hội An, tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn kê sát bờ sông. Uống một ly nước mía thật ngon ở nơi chốn đầy dẫy những kỹ niệm thiết tha và nhìn về một góc phố. Nơi ấy, ngày xưa, đã có lần tôi đứng đợi người tình trăm năm dưới cơn mưa lũ.
Gần ba mươi năm rồi đấy! Tôi đâu ngờ lại rời xa chốn này lâu đến thế? Nhưng cũng may, thành phố vẫn còn đây, vẫn vậy, cùng dòng sông Hoài (Thu Bồn) lưu luyến, để tôi còn có một nơi chốn tìm lại kỷ niệm ngày xưa, dù đã rất xa.
Nhờ số lượng du khách đỗ vào đều đặn, sinh hoạt của phố Hội thay đổi hẳn trong mấy năm gần đây. Ngoài những tiệm ăn, giải khát, tiệm bán tranh ảnh, khách sạn nở rộ, Hội An còn có thêm một vài nghề khác, như: nghề...cò, nghề OK sa lem. Trước hết, xin nói sơ về nghề cò. Cò có nghĩa là cò mồi. Mấy tay này hễ thấy khách du lịch đi ngơ ngáo trên đường là xáp lá cà tán hưu tán vượng. Khách vào tiệm ăn thì cò cũng theo vào ra tuồng là người hướng dẫn viên. Rồi sau đó xin chủ quán cho tiền huê hồng dẫn khách. Số lượng cò ở Hội An không nhiều, cũng khó kiếm ăn, vì phố nhỏ ai nấy đã nhẵn mặt khó quậy. Nhưng tựu chung, cũng kiếm được ngày hai bữa.
Chính tôi cũng bị một anh cò bu theo cả nửa ngày mà không biết. Cứ ngỡ anh ta là bà con bên bà xã tôi. Chẳng là lúc tôi đang ngồi ăn Cao Lầu ở đường Cường Để (bây giờ là Trần Phú) thì một anh xồn xồn bước vô kéo ghế ngồi kế bên nói chuyện rất thân thiết. Hội An là phố nhỏ, ai cũng có thể là bà con. Tôi nghĩ chắc anh ta là người thân xa bên vợ. Hỏi mấy câu về gia đình bà xã tôi, anh đều trả lời rành rọt. Nghĩ bụng cũng mừng, vừa gặp bà con, vừa có người trò chuyện đỡ buồn. Suốt nửa buổi, đi đâu anh cũng theo kề sát bên rất tương đắc. Khi tới bờ sông, tôi mướn chiếc ghe để dạo một vòng trên sông Thu Bồn cho mát thì anh không theo nữa. Mời mấy cũng từ chối nại cớ có chuyện phải đi gấp, hẹn tối gặp lại. Ghe chở tôi quanh một vòng Cẩm Nam rồi cặp về bến gần chợ cá. Lúc trả tiền, chủ ghe hỏi:
-cái thèng hồi nãy là boạn của cậu hử?
Tôi trả lời:
-không phải đâu bác. Ảnh là bà con bên vợ cháu.
-Vợ cậu là con của ai?
-Dạ, con ông Hụi tiệm thuốc Hoà Xương Đường...
Chủ ghe lắc đầu, nói:
-Rứa cậu bị hén gạt rồi. Tui cũng bị hén gạt lun.
Tôi ngạc nhiên:
-Ủa! Sao vậy bác?
-Tui ở đây mấy chục năm. Gia đình mô trên phố tui cũng biết hết. Hồi xưa nhà vợ cậu chưa dọn xuống Sài Gòn, tui tới mua thuốc của ông Hụi hoài. Gia đình ông Hụi là người Hoa. Mô có bà con chi với cái thèng quỉ nớ. Hén quê Tiên Phước, đói quá xuống phố làm nghề cò kiếm en. Vậy mà hén nói hén bạn của cậu, dẫn cậu tới giới thiệu đi ghe của tui, làm tui phải chung cho hén hết hưa chục phần trem. Thiệt đúng là cái thèng trời đánh. Tổ choa hén.
Đó là nghề cò. Còn nghề OK Salem thì dễ thương và tội nghiệp hơn. Nguyên chữ "OK Salem" dùng để chỉ những đứa trẻ chạy theo các người lính Mỹ để xin kẹo và tiền, lúc quân đội Hoa Kỳ còn đóng ở miền Nam. Ngày nay, Hội An mượn lại để đặt tên cho một nhóm thiếu nhi con nhà nghèo, sau giờ học, la cà bu quanh du khách gạ bán những tấm bưu thiếp in hình thắng cảnh, đi tích của Hội An. Nghề này một vốn mười lời. Tôi hỏi Thanh, cậu bé mười hai tuổi có gương mặt sáng sủa với nụ cười thân thiện rất...Hội An, lúc em đang cố dụ tôi mua sấp hình chùa Cầu.
-Em bán một ngày được bao nhiêu?
Thanh ngần ngừ giây lát xong trả lời:
-Có khi được vài Đô. Có khi chẳng được đồng mô.
-Những tấm hình này em lấy ở đâu?
Thanh cười:
-Sau giờ học, em lên ty Văn Hoá lấy đi bán. Bán được thì về trả tiền vốn lại cho ty.
So với cò, các em OK Salem này dễ thương hơn nhiều. Không sạo sự. Không lừa bịp. Tất cả dựa trên sự trao đổi thẳng thắn. Vừa lòng người bán, vui lòng người mua.
Trước khi về Hội An, cô em vợ tôi dặn: "Nhớ phải tới phở Liến làm vài tô. Rẻ lắm! Chỉ hai chục cents thôi. Nhưng ngon đáo để." Từ khách sạn Thanh Bình đi bộ tới phở Liến chỉ hơn trăm thước.
Tôi nhớ, hồi xưa cửa phở Liến thông ra con hẻm vô quán cà phê Chanh. Bây giờ, cửa chính lại hướng ra đường Lê Lợi. Sự đổi hướng này có lẽ mang lại nhiều tài lợi nên phở Liến rất đông khách. Mùi phở thơm tho với hương vị đặc biệt theo khẩu vị của người dân xứ Quảng. Không nơi nào bạn có thể tìm ra một bát phở mà gia vị phụ tùng lại có kèm theo vài lát đu đủ sống ngâm dấm đường. Nước phở bùi, bánh phở dai mềm, miếng thịt bò tươi kèm theo cái dòn rụm của lát đu đủ sống. Bởi vậy, làm sao mà tôi không tốn sáu chục cents cho ba tô phở chứ?
Không phải chỉ có phở tôi mới ăn đến ba tô, mà cả bún bò, cơm gà, cao lầu...thứ gì cũng phải ăn từ ba tô, ba dĩa trở lên mới hả cơn...thèm. Cũng đừng quên món bánh ích tro, bánh đậu xanh, mà khi ăn phải...đẩn cả chục cái mới đã.
Nếu bạn phải vất vả, ê ẩm suốt một ngày đêm ngồi xe ra tận Hội An như tôi, thì sự bồi dưỡng về món ăn ngon của phố Hội cũng đủ bồi đắp cho nỗi cực nhọc đó rồi. Đấy là chưa nói đến những di tích lịch sử nổi tiếng, không những trong nước mà ngay cả ở ngoại quốc cũng biết đến. Một trong những đi tích lừng danh của phố Hội là chùa Cầu.
Theo sử liệu thì chùa Cầu khởi công xây năm 1593, mãi đến năm 1597 mới hoàn tất. Chùa Cầu là một sự hoà hợp tuyệt vời giữa ba cấu trúc văn hoá mỹ thuật hiếm có của Nhật-Việt-Hoa. Tuy đã trải qua hơn bốn trăm năm trơ gan cùng tuế nguyệt, chùa Cầu vẫn hiện ngang bền bĩ giữ trọn vẹn những đường nét hoa mỹ đặc thù, cùng sự bí ẩn về đôi chó đá và cặp tượng khỉ đặt hai bên đầu cầu. Điều mà mãi đến bây giờ, người dân phố cỗ và các nhà khảo cỗ vẫn chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng về ý nghĩa của bốn tượng đá này.
Hồi đó, khi mới vào Hội An, tối nào tôi cũng thả bộ băng qua chùa Cầu. Tuổi trẻ thích long bong lêu bêu dạo phố đêm. Có lần sụp chân xuống cầu vì dẫm phải mảnh ván mục sướt cả đầu gối. Bây giờ, mỗi khi nhìn lại vết sẹo nhỏ ở chân, tôi hay gọi đùa là "vết sẹo chùa Cầu." Cũng là một kỷ niệm để nhớ mãi về một Hội An rất đằm thắm trong quá khứ.
Về Hội An mà chẳng xuống cửa Đại tắm biển là một thiếu sót không thể tha thứ được. So với hai bãi biển nổi tiếng Nha Trang và Vũng Tàu, thì biển cửa Đại ở Hội An trội hơn cả. Mặt biển xanh. Nước thật trong. Bãi cát lài lài ra tận ngoài xa, lội ra cả trăm thước mà nước vẫn không sâu qúa ngực. Sóng không lớn cuốn vào bãi cát nông, tạo nên nhiều đợi sóng nhỏ trắng xoá, đẹp mắt.
Nằm ngã người trên chiếc ghế xếp dưới chòi dừa dọc theo bãi cát. Uống một chai bia lạnh. Ăn một miếng mực luộc chấm nước mắm ớt. Bạn sẽ quên hết mọi phiền muộn trên đời. Mà, có khi, lại còn có thể quên cả chính bạn nữa. Hãy phóng tầm mắt xa hơn chút nữa ra khơi, bạn sẽ nhìn thấy một cù lao Chàm hùng tráng ẩn hiện trên mặt biển. Tủ rừng thông xanh mướt nối liền với bãi cát mịn vàng, kéo theo màu biếc của biển cùng cù lao Chàm. Qủa thật, tạo hoá đã dựng nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ rất tuyệt vời.
Trong mục đích bảo tồn di tích, Hôi An đã nhận được sự giúp đỡ tài chánh từ nước ngoài để tu bổ, sửa chửa những hư hỏng kiến trúc của phố thị. Tu bổ, sửa chữa chứ không được thay đổi hình dạng cấu trúc của nhà phố. Do đó, cho dù bạn có rời xa phố Hội vài mươi năm đi nữa, thì khi trở lại, Hội An vẫn chung thủy giữ dùm bạn từng góc phố, từng ngôi nhà thân quen, như thể bạn chưa hề rời xa nơi này đã quá lâu như vậy.
Sự chung thủy gắn bó của phố Hội có thể chứng minh bằng chính những vết tích kỷ niệm của từng người, của bạn, của tôi. Như hồi xưa lúc mới bị bà xã...cua, tối tối tôi hay ngồi đợi bả trên bực thềm xi măng ở bờ sông. Có lần bả cho tôi leo cây, không ra chổ hẹn, giận quá tôi đập cục gạch xuống bực thềm làm mẻ một miếng lớn. Chuyến này về lại chỗ "nớ" thấy vết bể vẫn còn, chỉ khác là hơi bự hơn một chút, làm tôi xúc động đứng lặng cả người. Rồi, cả tấm bảng hiệu Hoà Xương Đường (和 昌 堂) của nhà bà xã tôi mấy chục năm trước, vẫn còn treo trên lan can ở căn nhà bên đường Nguyễn Thái Học. Tại phố chính không thay đổi, nhưng nếu đi một chút ra ngoại vi sẽ thấy sự chuyển mình đáng kể của phố Hội. Chẳng hạn như: khu sân banh, xóm Mới, bến xe...nhà lầu mọc lên rất nhiều theo mức độ tăng trưởng của dân số chung quanh thị xã. Riêng con đường về Cẩm Châu xuống cửa Đại thì khỏi nói, nhà cửa san sát liền nhau, biến một Cẩm Châu buồn tẻ của quá khứ thành khu nhộn nhịp cả ngày lẫn đêm. Ban đêm, muốn xuống biển chơi, nếu không phải dân bản địa, chớ có dại mà tự lái Honda, nếu bạn chẳng gẩy cổ ở một ổ gà nào đó trên đường, thì cũng bị cán...bẹp bởi một trong những chiếc Honda của mấy tay yên hùng Cẩm Châu bất cần luật lệ. Chính tôi đã thử rồi và mãi đến giờ nghĩ lại vẫn còn...rùng mình.
Hàng ngày, bạn muốn biết những tin tức nóng hổi đang xảy ra ở Hội An? Khỏi cần đọc báo. Khỏi cần đi xa. Cứ tới quán cà phê đối diện khách sạn Thanh Bình trên đường Lê Lợi, nơi tụ tập của những tay chơi long bong phố Hội, họ sẽ truyền khẩu cho bạn nghe mọi tin nóng sốt. Từ Honda cán chó đến những mối tình vụng trộm; từ cuộc đánh ghen hào hứng của bà X bên xóm Mới đến vụ anh Y giựt hụi vì thua bài. Thậm chí cả số đề số đuôi cũng rôm rả lời bàn.
Khi bản tin miệng buổi sáng chấm dứt theo những ly cà phê đã cạn sạch, bạn có thể bước xéo qua đường mướn đỡ chiếc Honda của anh T với giá hai đô một giờ. Nhưng cũng đừng quên cảnh giác cái đồng hồ rất... nịnh chủ của anh T lúc nào cũng chạy nhanh hơn đồng hồ của bạn đến một...tiếng. Riêng tôi, mỗi lần bị anh T tính thêm giờ, tôi lại nhắc khéo về cái đồng hồ thổ tả đó, thì y như rằng, anh lại đánh trống lảng mà kể cho tôi nghe thêm một sự tích khác nữa về ngôi...chùa Cầu
Tôi ra vườn Ương ngoài bến xe tìm nhà một người bạn cũ. Cảnh trí nơi đây đã thay đổi rất nhiều. Ngôi nhà của bạn tôi một thời được xem là rất đẹp trong vùng, giờ đây trông thảm hại cũ kỹ, nép mình giữa những căn lầu đúc tân kỳ bao quanh. Gặp một ông già mặt hao hao giống thằng bạn đang ngồi ngoài thềm cửa, tôi gật đầu chào:
-Thưa bác, đây có phải nhà anh Hiếu?
Ông già chăm chú nhìn tôi rồi đứng lên nhăn hàm răng đã di tản gần hết ra cười:
-Ngọc hả? Tao...Hiếu đây. Hong phải ông già tao mô.
Ngày tháng trôi nhanh. Mọi việc, mọi sự trên đời đều đổi thay theo năm tháng. Nhưng Khuôn mặt của bạn tôi lại bị thời gian bạc đãi quá tàn nhẫn, đến nỗi tôi không còn nhận ra chính nó. Nắm bàn tay gầy guộc của Hiếu, tôi hỏi nó về cuộc sống. Hiếu ngậm ngùi:
-Giải phóng xong tao nghỉ học. Ở nhà đôi năm cuộc sống đã khó khăn nhiều. Nghe lời rủ của mấy thằng bạn, tao lên Tiên Phước tìm vàng. Rừng thiên nước độc, vàng đào không thấy, mắc thêm bịnh sốt rét. Tao về lại đây sống lây lất qua ngày.
-Sinh hoạt của mày giờ ra sao?
-Cũng tương đối ổn định.
-Vợ con gì chưa?
Hiếu cười buồn:
-Mi nghĩ có người nào chịu sống đời với một ông già xấu xí bịnh tật như tao sao?
Nỗi thất vọng về tương lai và cuộc sống đã biến Hiếu thành một người bi quan cùng cực. Hồi chúng tôi còn học chung phân khoa Luật ngoài Huế, trong nhóm bạn bè, Hiếu là người sáng giá nhất. Đẹp trai, học giỏi, con nhà khá giả, ăn nói duyên dáng, lịch sự. Lúc nào cũng có cả khối các cô nữ sinh Đồng Khánh Huế hâm mộ. Quả thật, thời gian đã quá vô tình và tàn nhẫn với một người rất dễ thương như Hiếu.
Buổi chiều, một ngày trước khi rời Hội An, tôi mướn chiếc xe đạp rảo một vòng quanh xóm Mới, qua sân Vận Động, ghé lại trường Trần Quí Cáp, thăm lại nơi tôi đã miệt mài suốt niên học của lớp đệ nhất (12). Lúc đạp xe đến trước cổng trường thì trời đã sâm sẩm tối. Ngôi trường vắng vẻ cũng buồn như cái hoàng hôn đang chết dần theo màn đêm. Tôi đứng ngoài vòng rào cố tìm lại lớp học của mình ngày xưa, nhưng bóng tối đã không thương tình mà che cả tầm nhìn bằng một màu đen sền sệt dễ ghét. Đành quay xe về hướng khác mà lòng rất buồn.
Ghé lại chùa Nam Tôn như một tình cờ không định trước. Thắp nén hương. Uống một tách trà nóng. Nói dăm câu chuyện cùng thầy trụ trì. Rồi, cũng với một cảm giác rất muộn phiền rời chùa về lại phố. Đạp xe suốt con đường Nguyễn Thái Học thiếu ánh điện, vắng cả bóng người đi. Dãy phố đêm với những khung cửa gài kín, im lìm như phố chết. Nguyễn Thái Học không còn là lộ trình của một thời nhộn nhịp, một thời lê gót, một thời đứng đợi...em trong mưa của tôi ngày xưa. Tất cả, còn lại, chỉ là những ký ức rất buồn rầu trên con đường nhạt nhoè, cô đơn giữa hai hàng phố vắng.
Ghé vào trường Lễ Nghĩa. Khoảng sân sáng rực ánh đèn với sự tranh tài hào hứng của những tay hảo thủ vũ cầu phố Hội. Ngồi một chút để cổ võ tinh thần cho những tay vợt trẻ. Cũng gọi là rất vui và đáng khâm phục cho những người trẻ yêu chuộng thể thao. Dù cuộc sống khó khăn, trường Lễ Nghĩa vẫn cố khắc phục tổ chức thường xuyên các giải tranh đua truyền thống.
Từ Lễ Nghĩa lại đạp xe xuống chợ. Chợ đã tàn từ sẩm tối, giờ chỉ còn lại những lều sạp trống rỗng. Cố luồn xuyên qua từng dãy sạp vắng tối mù ra tận bến cá. Gió sông mát rượi. Nghe như có giọng hò đâu đó vẳng lại bên kia sông. Cây cầu nối qua Cẩm Nam mất nhịp chỉ còn trơ lại chân trụ như một dấu tích rất muộn phiền của quá khứ. Thiếu một nhịp cầu, Cẩm Nam như rất gần mà cũng rất xa. Cũng may, tôi chẳng có nguổi yêu bên nớ, nếu không thì đã lỡ chuyến đò cuối qua sông đêm nay.
Đạp dọc theo đường Bạch Đằng. Những dãy bàn bên mé sông vẫn còn đông khách với từng chùm đèn màu nhấp nháy rọi sáng một quãng đường rất lãng mạn của Hội An về đêm. Dừng lại mua gói thuốc, gặp Hùng Anh, thằng bạn học ngày xưa ở lớp đệ nhị (11) trường Bồ Đề. Vẫn dáng cao dong dỏng gầy gầy và vẻ mặt bất cần đời. Hùng Anh kéo tôi về nhà. Căn nhà dài thăm thẳm từ Bạch Đằng thông ra tận đường Nguyễn Thái Học. Hắn lôi tôi lên lầu ra phòng rộng phiá trước, nơi vợ chồng nó và ba đứa con quây quần thành một mái gia đình rất hạnh phúc, bình dị. Tách trà Mai Hạc khởi đầu cho những hàn huyên, những gợi nhớ vui buồn trong quá khứ. Kỷ niệm cũ cứ như chẵng bao giờ kể hết. Về ngôi trường. Về thầy cô. Về bạn bè lưu lạc mười phương. Về những ngang tàn phá phách của tuổi mới lớn và về những buổi tối uống rượu nếp ở bờ sông An Hội. Tất cả được dàn trải theo nỗi ngậm ngùi luyến tiếc của một thời rất đẹp, rất nhớ.
Lúc từ giả, Hùng Anh buồn buồn nắm tay tôi như chưa muốn rời. Tôi đi mà không ngoái đầu nhìn lại. Gió đêm thật mát nhưng khó mà nguôi được nỗi rầu rĩ ở trong lòng. Đến gần cuối đường, dựng chiếc xe đạp vào cột điện, tần ngần nhìn cây cầu ngắn nối qua An Hội. Dưới ánh đèn vàng vọt, chiếc cầu vắng cũng buồn thảm như lòng tôi. Bên kia, dưới bầu trời lẻ loi những vì sao, cả An Hội đã chìm vào giấc ngủ. Chợt muốn bước qua cầu mà lòng vẫn ngập ngừng. Rồi sẽ tìm thấy gì giữa bóng tối quạnh quẽ bên kia bờ? Tai bỗng nghe âm thanh rất quen thuộc của tiếng nước vỗ vào chân cầu. Hình ảnh chiếc cầu. Nước reo nhè nhẹ theo ngọn gió thoảng trên mặt sông. Tất cả, tất cả chợt như ở một ngày nào đang hớp từng ngụm rượu nếp thơm nồng tại bến sông này.
Có phải gần ba mươi năm đã qua? Có phải thời gian đã trôi nhanh đến thế? Có phải tôi chưa hề rời khỏi chốn này trong suốt một phần đời? Có phải tôi vưà tỉnh dậy sau giấc mộng ngắn từ cơn say? Và, có phải tôi vẫn là tôi của những ngày rất xa đang dệt mơ ước nơi này bên bến sông đêm?
Dắt chiếc xe đạp thả bộ mươi bước thì cùng đường. Quẹo phải lên đoạn dốc ngắn đã thấy chùa Cầu. Đứng lặng một chút để ngắm chiếc cầu lừng danh nối liền Cẩm Phô và phố Hội. Bất giác, lại nhớ đến vết sẹo ở chân và mảnh ván mục trên cầu. Vết sẹo vẫn chưa mờ, chẳng biết mảnh ván gẫy có còn không? Ngồi giữa cầu, tay vuốt ve từng thanh gỗ, mảnh ván dưới chân. Nghe mùi hương ai thắp bên chân tượng chó đá như một gợi nhớ rất nổng nàn. Nước vẫn róc rách chãy dưới chân cầu. Mùi bùn non. Mùi cỏ đêm. Thật hạnh phúc khi tôi tìm lại được tất cả những thân nhớ này. Đêm tàn dần vẫn cứ muốn ngồi lại mãi một mình trong bóng tối. Phải chăng tôi vẫn còn đang chờ đợi một điều gì mình đã quên?
Một ông già đạp xe đến giữa cầu. Thấy tôi, ông đột ngột dừng lại, hỏi:
-đứa mô rứa? Răng giờ ni còn đứng ở đây?
Tôi đứng lên đáp:
-Dạ! Cháu ở xa về thăm phố. Ngồi chơi một lát rồi về.
Ông già định tiếp tục đạp xe đi, nhưng không biết nghĩ sao lại ngần ngừ rồi dựng xe bước lại gần nheo mắt hỏi:
-Mi nói giọng miền Nam giống cái thèng...thèng chi mô quên mất rồi hè?
Tôi cười. Cũng chợt nhận ra ông:
-Bác có phải là bác Bốn bên Cẩm Phô không?
Ông già ngập ngừng:
-Phải...phải. À...tao nhớ ra rồi! Mi là thèng Ngọc bạn của Xuân cháu bác phải không?
Tôi gật đầu. Bác Bốn nắm tay tôi lắc mạnh mừng rở:
-Về bao chừ? Răng không ghé thăm bác?
Lời nói chân thành của ông khiến tôi lặng đi giây lát.
-Cháu có hỏi thăm. Nhưng mấy người bạn nói Xuân không còn ở đây. Cháu tưởng bác cũng dọn về Đà Nẵng rồi.
Bác Bốn trách:
-Mi thiệt tệ quá! Bác vẫn ở đây đâu có đi mô.
Tôi tệ thật. Nhìn mái tóc bạc trắng cùng gương mặt hiền lành già nua của bác Bốn mờ nhạt trong bóng tối bỗng thấy chạnh lòng. Nhớ hồi còn đi học, mỗi khi tan trường Xuân thường rũ tôi về nhà bác Bốn đàn đúm hát hò, bày binh bố trận, phá làng phá xóm, phá luôn giấc ngủ trưa của bác mà bác chả bao giờ quở trách. Lúc nào bác cũng đối xử với tụi tôi rất tử tế, giống như con cháu trong nhà, dù Xuân chỉ là đứa cháu họ xa, được cha mẹ gửi gấm ở trọ nhà bác.
Có lần, bác được ai tặng cho chai rượu quí, cất mãi trên bàn thờ tổ tiên không dám uống. Một hôm, tôi và Xuân đem bình rượu xuống uống sạch. Đến khi phát giác ra tụi tôi là thủ phạm, bác chỉ ôn tồn nói: "Bác không vợ không con. Có tụi mi thêm vui cửa vui nhà. Nhưng phá chi thì phá. Chơi chi thì chơi. Phải ráng học cho nên người." Những lời nói chân thành mộc mạc của bác như còn văng vẳng bên tai, mà sao tôi lại tệ thế? Lại chẳng nhớ gì về một bác Bốn dễ thương bên Cẩm Phô để mà ghé thăm?
Tôi nắm lấy bàn tay chai cứng của bác Bốn mà nghe dạt dào những thương mến. Đúng là tôi đã có một linh cảm khi cố ngồi lại trên cầu để chờ đợi điều gì. Chắc là cuộc gặp gỡ này. Là bác Bốn. Là những kỷ niệm tôi đã bỏ quên trong căn nhà nhỏ của bác bên Cẩm Phô. Của những ngày mưa dầm, tôi, Xuân, và Hùng Tây ngồi trên bộ ván ở hiện nhà bác Bốn, ăn bánh tráng ướt chấm mắm cá uống rượu Nếp. Rồi khi đã ngà say, tôi lại đệm đàn để Hùng Tây và Xuân nức nở những bản tình ca ngoại quốc làm đứt từng khúc... ruột của các cô gái ngây thơ Cẩm Phô.
Tôi kéo bác Bốn ngồi xuống bục ván cạnh lan can. Chỉ mong đêm dài mãi để mà tâm sự, mà nhắc lại từng kỳ niệm và những chặng đời đã qua. Kỷ niệm nào chẳng có buồn vui? Nhưng vui hay buồn gì thì cũng gượng nở nụ cười để mà che dấu đi cái cảm xúc bồi hồi luyến tiếc. Cũng như lúc chia tay cùng bác Bốn, vẫn gượng nỡ nụ cười mà nhìn theo cho đến khi hình dáng cô đơn, gầy gò của bác đạp xe xuống cầu khuất hẳn vào màn sương. Mong bác hiểu cho vì sao tôi không theo bác ghé lại một lần nơi căn nhà cũ để uống cùng bác chung trà. Tôi sợ mình sẽ phải đau lòng hơn khi nhìn thấy sự lẻ loi hiu quạnh của bác, trong căn nhà đã chẳng còn gì...không còn ai...
Tôi quay về phố. Đạp xe thật chậm theo chiếc bóng ưu phiền của chính mình trải dài trên mặt đường. Sương khuya lạnh lắm, nhưng vẫn muốn đêm hãy còn dài để được đi suốt những con đường còn lại của phố Hội. Bởi vì mai này, mai này biết tôi còn giữ được lời hứa trở về thăm phố, hay dòng đời lại cứ đưa đẩy đi xa mãi nơi này?
Tôi rời Hội An buổi sáng sớm khi trời còn mù sương. Một phút đứng lặng nhìn thành phố vẫn yên ngủ mà nghe lòng man mác nỗi buồn. Tuy không sinh ra và lớn lên nơi thành phố này, nhưng tôi đã gửi lại đây một phần đời rất đẹp, dù ngắn ngủi, của tuổi mới lớn. Đã yêu mến từng con đường, từng góc phố, từng mái nhà rêu cổ cùng dòng sông Thu Bồn hiền hoà và một người con gái rất đẹp của phố Hội. Mai này, cho dù có xa tận phương nào, tôi vẫn nhớ về một Hội An như đã nhớ rất nhiều trong đời, vẫn giữ mãi một Hội An đằm thắm trong tim như gìn giữ hình ảnh người tình chung thủy muôn đời.
Nhất định, nhất định tôi sẽ về lại...

Hồ Xuân Ngọc. 
2005


Tuesday, July 14, 2026

GIẤC MƠ TÌNH - THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT - NHẠC SĨ BẰNG GIANG PHỔ NHẠC

 


THƠ : HOÀNG ÁNH NGUYỆT
N.SĨ: BẰNG GIANG PHỖ NHẠC
CA SĨ: THUỲ AN TRÌNH BÀY
VIDEO: ĐỖ TRẦN THỰC HIỆN

tho3

GIẤC MƠ TÌNH THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT
January 28th, 2011 
@10pm
Cao Ngọc Dung giới thiệu...



   GIẤC MƠ TÌNH

Đêm thao thức nhớ khôn cùng
Lệ rơi thổn thức…lưng chừng giấc mơ
Nghe lòng nặng trĩu bơ vơ
Nhớ anh em dệt vần thơ trữ tình
Mộng chưa tròn giấc mơ xinh
Bao lần nhung nhớ xuân tình bờ môi
Chỉ còn là kỷ niệm thôi
Vẫn ghì giấc mộng… dệt lời thủy chung 
Đêm dài trăn trở chờ mong
Bao nhiêu hoa mộng phiêu bồng đam mê

Bởi chưa nắm chặt tay thề
Lặng nhìn trăng khuất bên lề đơn côi
Trăm năm lòng vẫn thế thôi
Yêu  anh… thương nhớ lệ rơi não nùng
Hai phương cách biệt nghìn trùng
Trái tim khao khát tương phùng ngàn năm.
Hoàng Ánh Nguyệt
(San Jose, June-2010)


Tuesday, July 7, 2026

HƯƠNG THI CA - THƠ DƯƠNG QUÂN

 




 
 
HƯƠNG THI CA
 
 
Ta ở bên này, em bên kia
Quanh năm thương nhớ cứ đi về
Quanh năm là cả mùa đông lạnh
Chỉ mộng gần nhau những giấc khuya
 
Có phải em là Tiên Nữ không?
Mà sao thơm ngát khóe môi hồng
Mà sao cánh gió đêm run rẩy
Thấp thoáng bên màn ánh mắt nhung
 
Có phải em là ánh sáng sao?
Giữa vòm tinh tú chiếu muôn màu
Hồn ta đã lạc vô phương hướng
Quên lối từ đâu, sẽ đến đâu
 
Có phải em là cơn sóng to?
Cuốn trôi ước vọng giạt xa bờ
Nhận chìm kỷ niệm vào quên lãng
Còn lại hoang tàn cả cõi thơ.
 
Có phải em là cánh én bay?
Báo mùa Xuân sẽ đến nơi này
Nên ta phơi phới niềm hi vọng
Hương sắc trần gian say ngất ngây.
 
Có phải em là mây bốn phương?
Thênh thang như ào ảnh vô thường
Chẳng bao giờ hẹn chờ ai đến
Nên để lòng ta mãi vấn vương.
 
Có phải em là Đỉnh Tuyết Vân?
Màn sương khép mở áo thiên thần
Ta vùi thân thế trong băng giá
Giã biệt ưu phiền nẻo thế nhân.
 
 
Dương Quân