TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Saturday, September 12, 2026

NGÀY GIỖ 11 NĂM & THU SANG - THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT

 

Image result for thu về khóc người ra đi


NGÀY GIỖ MƯỜI MỘT NĂM

(Ngày Giỗ thứ11 HNT)



Tôi lặng lẽ cúi đầu xin tiễn hạ

Mười một lần đón thu tới nơi này

Nhìn mây trôi nhìn chiếc lá thu bay

Là nỗi nhớ càng lắt lay xao xuyến


Mười một thu tôi vẫn luôn cầu nguyện

Được thảnh thơi trong nghịch cảnh chuyển dời

Chốn muộn phiền nỗi nhớ dễ chi nguôi

Nên giữ mãi tình mình làm di sản


Tâm buông xả được sống trong tỉnh lặng

Giòng đời trôi lây lất tháng năm dài

Nỗi ngậm ngùi cõi nhớ chẳng mờ phai

Không trách phận mặc dòng đời đưa đẩy


Sống âm thầm nỗi buồn dâng biết mấy

Âm dương ngày càng biền biệt đôi đường 

Thắp hương trầm khấn nguyện khắp mười phương 

Người thanh thản an lành nơi bến giác.


Hoàng Ánh Nguyệt

(SJ 7/24/AL 2020)



THU SANG 


Anh ơi! Thu nữa lại sang
Năm nay ngày giỗ chứa chan nỗi buồn
Tử sinh, hữu hoại vô thường
Anh đi nhẹ bước thiên đường tiêu dao
 
Bao năm ngỡ giấc chiêm bao
Dài thêm nỗi nhớ buồn sao ngút ngàn
Lòng đau từ thuở ly tan
Người về thiên cổ trần gian ngậm ngùi 

Thu mang nỗi nhớ không thôi
Dòng đời xuôi ngược, vẫn trôi lặng lờ
Vắng anh thương nhớ vô bờ
Mượn lời góp ý dệt thơ tặng đời
 
Giỗ anh em nguyện Phật Trời
Linh hồn thanh thản ở nơi Vĩnh hằng 
Bụi trần rũ sạch nhọc nhằn
Niết Bàn Cực Lạc an lành thiên thu.
 
Hoàng Ánh Nguyệt
(San Jose 2015)


Monday, August 31, 2026

VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ HÀ THU THUỶ - ĐƯỜNG TRĂNG CUỐI NĂM - DƯƠNG QUÂN



















Viết Về Thơ Hà Thu Thủy - DƯƠNG QUÂN


Vài cảm nhận về bài thơ 
Đường Trăng Cuối Năm của Hà Thu Thủy

Tôi thường hay ghé thăm Trang Thơ của Web AHBH, nơi đây có nhiều tác giả làm thơ rất hay, thỉnh thoảng rồi tôi sẽ nhắc đến. 
Hôm nay, đọc bài thơ Đường Trăng Cuối Năm của tác giả Hà Thu Thủy, sau một đêm không ngủ được, làm cho tôi bắt buộc phải ngồi vào bàn phiếm, gõ mấy giòng cảm nhận về bài thơ mới được đăng lên.
Cũng tại cái TỰA đẹp quá, gây chú ý cho người đọc: Đường Trăng Cuối Năm cũng như Nguyễn Thị Thêm hôm trước với bài Bên Kia Rặng Núi (mở đầu bằng một câu hỏi: Có gì không bên kia rặng núi? và kết luận bằng một câu trả lời: Bên kia núi xanh chẳng có ai chờ) Thơ như vậy nên không khen không được.
Hôm nay với cái TỰA Đường Trăng Cuối Năm đầy thơ mộng, nên phải xem coi tác giả nói gì?
Nói về Trăng, thì từ xưa tới nay, ai ai là thi nhân đều có những vần thơ về Chị Hằng. Từ Trăng "chết chìm" của Lý Bạch, đến trăng lãng mạn của Lamartine trăng Triết học của Tagore, tiếng chó sói tru giữa đêm trăng của A. Vigny, đến ma quái của Đinh Hùng hay nổi tiếng nhất là "trăng nằm sóng soải" của Hàn Mặc Tử v. v...
Bài thơ Đường Trăng Cuối Năm của Hà Thu Thủy về chữ, lời và ý đều xoay quanh đề tài Trăng gồm 5 khổ thơ, theo thể 8 chữ vần ôm, câu 2 và câu 4. Tác giả sử dụng 3 khổ thơ trong 3 lần với điệp ngữ "Đứng Giữa Đường Trăng" để "mềm môi mời mọc" để "mơ làm giun dế" và để "làm người mất trí"
Hãy nhìn bài thơ này với cái nhìn của Trường Phái Trừu Tượng (symbolisme) và cái nhìn Siêu Thực (sur-realisme) để cảm nhận tư tưởng của tác giả.
Tác giả Đứng Giữa Đường Trăng mềm môi mời mọc hỏi chuyện tình yêu ở chốn thiên đường và cõi nhân gian có khác nhau không? Hay cũng đầy nước mắt?

Đứng giữ đường trăng mềm môi mời mọc
Những vì sao về nghe chuyện dương trần
Chuyện tình đầu buồn tựa như tiếng khóc
Chốn thiên đường, yêu có khác nhân gian?

Có khác chi không tình đầy nước mắt
Mặn những giận hờn, đắng ngắt gian nan
Cười chưa tròn đã não nề cuối mặt (cuối hay cúi?)
Hiu hắt một mình sầu suốt trăm năm

Tác giả lại Đứng Giữa Đường Trăng để mơ làm giun dế, để hát suốt đêm dài cho quên hết thời gian và để ngủ giữ rừng cây cùng muôn đời mặc niệm:

Đứng giữa đường trăng mơ làm giun dế
Hát suốt đêm trường quên hết thời gian
Ngủ giữa rừng cây muôn đời mặc niệm
Tay đan cành cùng lá đẫm dòng trăng


Đến đây, sao thấy tác giả có "hơi thơ" như phái khắc kỷ, hay Lão Trang quá?
Rồi lại "Đứng Giữa Đường Trăng" lần thứ 3. Nhưng lần này tăng thêm một bậc là để "làm người mất trí" Mất trí nhưng thật đáng yêu, vì chỉ hát ca khúc hiền hòa, nằm dưới bụi hồng và an lành trong mộng phiêu diêu

Đứng giữa đường trăng làm người mất trí
Hát thật hiền hòa ca khúc thương yêu
Nằm dưới bụi hồng bình yên giấc ngủ
Sẽ thật an lành trong mộng phiêu diêu..

Còn một khổ thơ cuối cùng, tác giả làm kết luận bài thơ với lời kêu gọi vầng trăng đẹp xin xóa giùm tăm tối u buồn, thắp sáng nụ cười, xua tan cay nghiệt để cho tóc rừng được chảy suông.

Ơi đường trăng đẹp chan hòa khốc liệt
Xóa hộ ta những khỏang tối u buồn
Thắp sáng nụ cười xua tan cay nghiệt
Chảy suông giùm dòng tóc rừng buông.

Khổ thơ cuối cùng này đẹp quá, ý và lời mênh mông diệu vợi. Tác giả đầy can đảm "dám" dùng chữ KHỐC LIỆT trong chan hòa khốc liệt. Nếu suy nghĩ theo thói thường tình, có người sẽ cho rằng hơi khá sống sượng nhưng theo tôi, đây là lời đoan quyết tác giả phải nói hết cường độ vừa nói lời xin, vừa bắt buộc, vầng trăng được yêu cầu phải thực hiện theo ý tác giả.
Vì lời yêu cầu "xóa u buồn" "thắp sáng nụ cười" "chảy suông dòng tóc rừng" là nguyện vọng làm cho thế gian này thăng hoa, thay cho tiếng khóc, giận hờn đắng ngất đã nói ở trên.
Cám ơn tác giả Hà Thu Thủy đã gởi đến cho người đọc thông điệp yêu thương và nhân ái với nhiều quyết tâm. Văn chương đối với người nghệ sĩ thật là quí như bài thơ Đường Trăng Cuối Năm.
Cũng không quên gởi đến Hà Thu Thủy thắc mắc rằng: Ủa? Sao tác giả đặt cái TỰA là Đường Trăng Cuối Năm. Đường Trăng thì đã thấy và đã phân tích. Còn "Cuối Năm" sao không thấy tác giả đề cập chữ nào
trong suốt cả bài thơ?
Dù sao. Đây là một bài thơ hay mà tôi đọc đi đọc lại rất nhiều lần.

Dương Quân
4.15


Thursday, August 20, 2026

MỘT LỜI NGUYỀN - THƠ DƯƠNG QUÂN

 

                                                 MỘT LỜI NGUYỀN

 



Ta quanh quẩn trên lối mòn nhung nhớ
Những năm dài đếm mãi bước lưu vong
Đời lãng du, thân dạn dày sương gió
Vẫn hằng mơ mùa nắng ấm xuân hồng.
 
Vài bạn cũ ngày xưa giờ gặp lại
Nay còn đâu dáng dấp thuở hoa niên
Râu tóc đã bạc phơ màu quan tái
Cũng như ta, lòng nặng trĩu ưu phiền.
 
Trong giây phút hàn huyên lời tâm sự
Nhắc tình xưa thân thiết hỏi thăm nhau
Rồi tiếp bước trên nẻo đường lữ thứ
Hẹn ngày mai lay chuyển một tinh cầu (!)
 
Xung quanh ta, biết bao người nghĩa khí
Chí kiên cường - nhưng lực bất tòng tâm
Sang biển lớn quyết làm thân tráng sĩ
Cửa mỹ nhân, quằn quại khốc điêu tàn.
 
Ta u uất trong biển đời bão loạn
Nỗi nhọc nhằn dày xéo nát tim gan
Lửa si mê cháy bùng bao vấn nạn
Cõi vô minh, bờ vĩnh cửu đang gần.
 
-Này bạn trẻ! Xin cho ta nhắn lại
Một lời nguyền sau cuối rất thiêng liêng
"Gánh giang san, đi đoạn đường tiếp nối
Xây yêu thương - và phá vỡ xích xiềng"
 
Ta vẫn tin - như mặt trời vẫn mọc
Mùa đông tàn, báo hiệu tiết xuân vui
Sẽ trở về một mùa xuân dân tộc
Thanh bình ca, vang khúc hát yêu đời.
 
 
 DƯƠNG QUÂN


Wednesday, August 12, 2026

CHIỆN XÓM TUI - BÀI VIẾT HỒ XUÂN NGỌC



BÀI VIẾT CỦA HỒ XUÂN NGỌC ( EM TRAI ÚT)


1973 with Huynh Dong.
Chiện Xóm Tui (1)
   (về những người hàng xóm dễ thương của tui ở quận 10))


  Bé LAN
   Hai chú cháu cùng sàng tuổi nhau, nhưng Đông phải kêu tui bằng chú theo vai vế trong họ nội. Tuy là chú, nhưng khờ hơn thằng cháu nhiều lắm. Tui lúc đó còn đi học, khờ khạo ngu ngơ, Đông đã là trung sĩ quân cảnh vừa được thuyên chuyển từ Phú Quốc về làm công vụ ở quận 10 khu nhà tui. Mỗi cuối tuần, Đông dẫn người chú khờ khạo này đi uống bia miễn phí ở các quán bia ôm trong khu vực. Các chủ quán đâu có...ngu mà tính tiền, bộ muốn đóng cửa quán chắc?
   Một hôm, khi chú cháu uống đã ngà say. Đông hỏi:
   - Chú Út lác...ý quên. Chú Út có bồ chưa?
   Mèn đét ơi...tui có tật hơi biếng tắm nên lâu lâu cũng bị...lác sơ sơ. Nói có thần…Tài làm chứng, tuần nào cũng tắm…một lần chớ đâu có phải là hỏng tắm? Ở nhà nói nhỏ nhau nghe cũng hỏng sao. Ai đời, đương ngồi giữa nơi thanh thiên bạch nhật, bên cạnh có mấy người đẹp bia ôm đương đá lông...chân với chú nó, mà nó lại khai báo rõ ràng...đời tư của tui. Thiệt là thằng cháu trời đánh.... Vuốt giận, tui trả lời:
   - Thì cũng có một cô bồ mới quen gần nhà. Có gì hong?
   - Hun hít gì chưa?
   Mèn ơi, tui mới xuất chùa chưa bao lâu(tui xuất gia vài năm ở trong chùa), đương tập sống lại với những sinh hoạt đời thường. Có bồ đã là chiện lớn rồi, nói chi tới chiện hun hít? 
   - Chưa biết hun. Tui ngựơng ngùng trả lời.
   - Bồ chú là ai vậy?
   - Cô Lan cùng xóm.
   Đông trợn mắt nhìn tui:
   - Lan...lác con bà Tám hả?
   Cũng...lác nữa. Chẳng là như vầy: xóm tui có cô đó tên Lan, ngừơi cao gầy nước da trắng trẻo, mặt mày đẹp gái, mà chắc cũng hơi biếng tắm như tui, đứng đâu gãi đó, nên mới có biệt danh Lan...lác. Hai cuộc đời cùng cảnh ngộ, hai tâm hồn cùng…ngứa ngáy, nên khi gặp nhau Lan lác...cua tui là dính liền. 
   Đông biết tui còn ngáo ộp, chẳng bù với nó đời lính phong sương, tình yêu đầy đường, nên dạy khôn thằng chú:
   - Con nhỏ đó cũng đẹp gái đó chú! Vậy, để cháu chỉ cho chú vài chiêu đem thực tập với cổ nhen!
   Ực thêm nửa ly bia, Đông nói tiếp:
   - Đầu tiên, cháu sẽ chỉ cho chú cách hun môi. Chú phải le lưỡi liếm môi cổ...rồi...rồi...
   Đông vừa giải thích vừa diễn tả. Thỉnh thoảng bị khô...cổ lại nốc thêm vài ngụm bia để lấy trớn...
   Hai ngày sau...
   Buổi tối, tui hẹn Lan ra công viên để thực tập bài học từ thằng cháu. Vừa hồi hộp, vừa run rẩy trong bóng tối chập chờn dưới tàn cây cổ thụ. Sau một hồi tâm sự bằng…tay, Lan nhắm mắt ngửa mặt chờ tui. Nhớ lại bài học của thằng cháu “...từ từ le lưỡi, nhắm mắt rà xung quanh vành môi của Lan, rồi đưa lưỡi vào...”. Tui nhắm mắt, run rẩy trong bóng tối, thực hành bài học của thằng cháu. Ủa? Sao bờ môi cuả em Lan chai ngắc mà...mặn chát vậy cà? Định mở mắt ra nhìn cho kỹ thì nghe một cái...bốp vô mặt. Nói thiệt, trong đời tui chưa bao giờ bị một...chưởng đau như dzậy. Chưa kịp hoàn hồn thì nghe giọng Lan rít lên trong bóng đêm như từ cõi...âm vọng về:
   - môi người toa hỏng hun đi hun...lỗ tưa…nhột muốn chếch. Về kiếm thầy hạc(học ) đi. Đồ quỉ sứ.
   Nói xong, Lan xoay mình quày quả bỏ đi, để mặc tui đứng một mình trong bóng đêm với dư âm...ê ẩm vì cú tát nặng...ký của nàng.
   Vài ngày sau...
   Đang ngồi gãi...lác đã quá thì nghe tiếng bấm chuông. Sáng sớm ai tới đòi...nợ dzậy trời? Vừa hé cửa dòm thử, thì bác Tám, mẹ Lan, mặt hầm hầm đẩy cửa bước vô, hỏi:
   - Moá mi mô?
   Bác Tám người Tam Kỳ miệt ngoài, dọn nhà vào định cư ở xóm tui cũng được vài năm.
   - Dạ...có chiện dzì hong bác?
   - kêu moá mi roa gặp tau.
   - Dạ...má con đi chợ rồi bác Tám.
   Má Lan ngần ngừ nhìn tôi, nói:
   - Tau hỏa(hỏi) mi. Mi lồm cứa chi moà con Lon(Lan) về nhoà ơm lỗ tưa(tai) khóc miết rứa?
   Trời đất! Chắc Lan đã khai báo thật thà với mẹ nó rồi. Tôi giả bộ ngây thơ:
   - ủa, sao dzậy bác?
   - Tổ choa mi. Còn mún chối hỏa? Con Lon đoã khưa bố hết với tau rầu...hén nói mi lòm hén...viêm một bên lỗ tưa. Về nhoà hén cứ ôm lỗ tưa kêu tên mi rầu khóc miết...hén nói hén thương mi-nói đến đây, bác Tám chợt dịu giọng-Thâu, hưa đứa mi thương nhau thì boác cũng hợp ý. Có gì để boác nói chuyện với moá con rầu tính, hỉ!
   Trời đất! Chiện lớn à nhen! Bác Tám là người miền Trung thật thà, còn theo phong tục ở ngoải, hể trai gái kết nhau thì gả, chớ hong hề nghĩ tới chiện tuổi mới lớn chỉ yêu đương bồng bột, vớ vẩn. Chà, cú này chắc tui phải kiếm đường...đào tẩu quá! Ai mà dè chiện giởn chơi con nít lại thành đại sự như dzậy? Chiện này cũng tại thằng Đông, đứa cháu ôn hoàng dịch vật xử bậy mà ra nông nổi. 
   Nói dzậy mà cả tháng sau cũng hỏng thấy bác Tám qua nhà nói chiện với má tôi. Hàng ngày Lan vẫn đi ngang nhà tôi, vừa rờ lỗ tai, vừa liếc mắt nhìn tôi tình tứ qua khung cửa. Đôi lần muốn hẹn Lan ra công viên để thử…phổi lần nữa, nhưng nhớ lại cú Như Lai Thần Chưởng của Lan làm tôi...hãi quá.
   Một hôm đi học về, mở cửa ra thì thấy lá thơ của Lan nhét qua kẹt cửa. Mừng qúa. Lần đầu nhận được thơ Lan, hỏng mừng sao được? Không kịp thay đồ, chạy vội lên lầu để nghiên kíu ngay lá thơ tình. Thơ Lan viết như dzầy:

   “Anh Út mến,
   Khi anh đọc những dòng chữ này thì em đã thuộc về người khác rồi(híc híc). Ngày này tháng sau, em lên xe...lam về nhà chồng(híc híc). Em xin lỗi đã làm anh buồn lòng. Xin anh hãy gắng quên em và coi em như một người em gái của anh. Xin anh hãy bảo trọng, giữ gìn sức khỏe. Cố gắng học hành để đạt được một tương lai sáng lạng, chứ bây giờ thấy anh...lêu bêu quá. Anh Út, chồng tương lai của em cũng tên Út. Út thợ may chứ hỏng phải Út...lác như anh. Người ta nghề nghiệp đàng hoàng. Không như anh, nghề hỏng có, mà nghiệp cũng hong. Chỉ có...lác là nhiều thôi. Chồng sắp cưới của em có tiệm may ở ngã ba ông Tạ, cũng gần đây thôi anh à! Dù ảnh hỏng đẹp trai bằng anh, nhưng ảnh có kinh tế, biết chìu chuộng em. Ảnh còn biết...hun em đủ...chổ hết. Còn anh, anh chỉ biết hun...lỗ tai em thôi. Người có ăn học như anh mà sao ngáo quá vậy trời?
Thôi, thơ ngắn tình dài, vài hàng từ giã với anh. Chúc anh nhiều may mắn trên đường học vấn. Nhớ giữ sức khỏe và nhớ sau này có quen cô nào thì đừng có hun lỗ tai người ta, hong thôi là mất bồ đó anh.

Em Lan
   Tái bút: ngày cưới, em sẽ mời anh dự. Đi cưới, anh đừng mua...đồng hồ treo tường tặng em. Vì đám cưới nào cũng thấy khách mời mua toàn...đồng hồ treo tường hết. Mong anh đi cưới bằng ...tiền mặt hoặc...vàng ba số 9. Như vậy sẽ tiện cho em. Em cám ơn anh...trước. À quên...hôm trước anh còn thiếu em...năm trăm. Xin anh đừng quên bỏ luôn vô bao thơ đi cưới. Đội ơn anh vô cùng.”
***
Anh TÔN
   Ngày cưới của Lan, tôi...trốn luôn vì ...mậu lúi. Không tiền đi cưới, lại thiếu nợ nàng...chường mặt tới để Lan tặng cho một...chưởng nữa là banh đời trai. Buồn tình, ra quán cà phê của anh Tôn Lề đầu hẻm kêu xị rượu đế giãi sầu.
   Quán ế, đang ngồi...ngáp chờ khách, thấy tôi,  anh Tôn Lề mừng ra mặt.
   - Mấy bữa nay đi đâu hỏng thấy mày ghé qua dzậy Út? Sao mặt mày buồn dzậy?
   - Cho em xị rượu thuốc đi anh Tôn.
   Anh Tôn cười cười, hỏi:
   - Hà...hà...bị đứa nào bộp...tai nữa hả Út?
   - Biết rồi còn hỏi…
   Đặt xị rượu xuống bàn, anh Tôn kéo ghế ngồi đối diện với tôi. Mặt anh ra chìu nghiêm trọng:
   - Có gì từ từ nói tao nghe. Đừng vì ba đứa con gái lôm côm mà say sỉn hư đời nhen mậy!
   Mèn ơi...nghe ảnh nói mà đương buồn cũng muốn thất cười. Bản thân ảnh cũng vì mấy cô gái...lôm côm mà bây giờ chỉ còn có chín...ngón tay. Giờ, muốn dạy lại tui?
   Chẳng là ngày xưa ảnh yêu chị ba Lề bán hột vịt muối ở cầu ông Lãnh. Hai người thề non hẹn biển, đùng một cái, chị Lề ôm cầm sang thuyền khác. Anh Tôn đau lòng lận dao phay vô cạp quần, rủ tui cùng đi tới gặp chị ba Lề, trước ngày chỉ lên xe…bông. Rồi, trước mặt chị, anh để ngón tay lên cạnh bàn, rút dao phay phập xuống cái…bụp đứt lóng tay trỏ( chắc cũng mượn cớ trốn…lính). Anh Tôn thề:
   -Có mặt đèn làm chứng, Tôn vì Lề mà chặt đứt ngón tay. Thề, suốt đời hong yêu ai nữa.
   Báo hại, tui phải hốt hoảng chạy ra kêu xe  taxi, rồi cùng chị ba Lề chở ảnh thẳng vô nhà thương Sài Gòn trước bồn binh chợ bến Thành(sau vụ này, tui về kể lại cho bà con nghe, nên xóm tụi tui mới đặt cho ảnh biệt danh là “Tôn vì Lề.” Thét rồi ai cũng quen miệng kêu tắt là anh Tôn Lề).
   Giờ nói tới cái vụ xe taxi. Tui hỏng có tiền trong túi đã dành, chị ba Lề thì lính quýnh lúc đi quên cầm bóp theo. Khi xuống xe hong có tiền trả, chị ba Lề quay qua hỏi anh Tôn:
   - Anh có đem tiền theo hong?
   Anh Tôn trả lời giọng yếu xìu:
   - Hồi anh qua nhà em chỉ lận có con dao, nên cũng quên…bóp ở nhà.
   Nói thiệt, lúc đó dòm anh Tôn, tui cũng thất cười. Ảnh bự con, cao lớn, râu ria xồm xoàm như Trương Phi,mà mới đứt một lóng tay mặt mày đã xanh như…đít vịt, nói hỏng ra hơi. 
   Tui nói với chị ba Lề:
   - Thôi, chị đưa ảnh vô phòng cấp cứu trước đi, vụ taxi để em lo. Hỏng sao đâu.
   Tui quay lại nói với chú tài xế:
   - Giờ vầy, chú chở con về nhà ở đường Trần Quốc Toản, trước đại học Quốc Gia Hành Chánh quận 10. Con vô nhà lấy tiền trả cho chú, cộng luôn cuốc xe từ đây về đó.
   Chú tài xế nhếch mép nhìn tui, nói:
   - Thằng Tôn quýnh quá nên hỏng nhận ra tao. Còn mày là thằng Út…lác con bà tư Hồ phải hong? Dzìa hỏi má mày, chú bảy taxi, là bả biết tao liền. Chòm xóm với nhau tiền bạc cái gì. Thôi, dzô lo cho thằng Tôn đi.
   Thấy hong? Thấy dân quận 10 của tui hong? Tình nghĩa dzậy đó! Nghĩ lại ngày xưa tui thấy mình cũng nổi danh ghê.
   Giờ trở lại chiện của tui. Ực một ngụm rượu, tôi kể sơ cho anh Tôn nghe về chuyện Lan đi lấy chồng. Anh nhìn tôi ái ngại, nhưng rồi lại nghiêm sắc mặt, hỏi:
   - thôi, bỏ qua chiện đó đi! Giờ tao hỏi thiệt mày...bửa nay mày uống trả tiền hay ghi...sổ? Sổ mày hết chỗ ghi rồi.
   Tôi gãi đầu làm mặt...buồn:
   - Thằng em đương buồn, anh cho ký thêm xị nữa. Hứa với anh cuối tháng này sẽ thanh toán hết cho anh.
   Anh Tôn lầm bầm với giọng kém vui:
   - Lần nào cũng cuối tháng...gặp chừng hai thằng như mày là tao...sập tiệm luôn.
   Nói dzậy chứ anh Tôn là người tốt. Cuối cùng, tôi cũng...ký nợ thêm...ba xị nữa.
Hôm đó say quá cỡ. Anh Tôn phải cõng tôi về nhà. Nằm liệt giường hai ngày mới bò dậy. Rượu gì mà ác dzậy trời? Chắc rượu bà Quẹo pha thuốc rầy quá?
   Mùa hè sắp hết, nghĩ đến chuyện đi học lại buồn muốn chết. Một buổi sáng, khi đọc xong lá thư của chị tôi, theo chồng đang đóng quân ở Hội An gửi vào, má tui nói:
   - Út à! má muốn gửi con ra miền Trung đi học. Nghe nói ngoài đó học sinh hiền lành, ngoan ngoãn lắm. Hong như tụi bây học trò Sài Gòn ăn chơi, nhậu nhẹt tối ngày. Thôi, con chuẩn bị tuần sau đi ra ngoải. Má sẽ đặt vé máy bay. Ra đó ráng học hành cho nên người nha con.
   Tui cũng hong ngờ chỉ một thời gian ngắn ngủi sau đó, dòng đời đã đưa đẩy tui ra tận miền Trung lạ lẫm xa tắp ngoài kia. Thế nhưng, chính vùng đất hiền hoà xa xôi ấy đã tặng cho tui những ký ức, những hoài niệm tuyệt vời nhất của tuổi mới lớn. 
   Vậy mà, phải hơn bốn năm sau tui mới về lại xóm cũ. Đường Trần Quốc Toản khu nhà tui trông xa lạ, nhộn nhịp hơn những ngày tui chưa ra Trung. Quán nhậu của anh Tôn được sửa sang đẹp đẽ hơn. Anh Tôn bây giờ đã lập gia đình và có một đứa con trai dễ thương với chị Hồng, người Hoa quê bên quận 6. Gặp lại tui, anh mừng lắm. Anh ôm cứng lấy tui rồi hun chùn chụt lên tóc tui, như thể, tui vẫn là thằng Út lác mười sáu tuổi ở những ngày anh còn cõng tui về nhà mỗi khi say. Bữa đó anh đãi tui linh đình, bia rượu khui mỏi tay. Chị Hồng không ngừng hối mấy cô chạy bàn bưng mồi do chính tay chị nấu, để tui và anh Tôn nhâm nhi. Cũng nhờ tài nấu nướng của chị Hồng, mà quán anh Tôn lúc nào cũng nghẹt khách. Thôi thì cũng mừng cho anh, vừa có vợ giỏi giang đẹp gái, lại thêm đứa con trai nối dõi tông đường. 
   Tiệc tàn, tui lạng quạng đi bộ về nhà. Anh Tôn đi theo tui một đoạn ngắn. Bất chợt, anh níu tay tui rồi nói:
   -út à! Mày giờ đã lớn, ráng học để sau này còn làm ông này bà nọ nhen! Mấy năm mày ra miệt ngoải tao cũng nhớ mày lắm. Thôi, khi nào rảnh ghé tao nhậu cho vui. Chị Hồng mày bả dễ chịu lắm. Mơi sáng ra uống cà phê với tao.
   Vừa quay lưng đi, thì anh Tôn bỗng kéo tui lại và nhìn quanh quất như thể sợ ai nghe thấy những điều anh sắp nói với tui:
   -út à…tao dặn mày cái này nhen! Chiện quá khứ bỏ qua đi. Trước mặt chị Hồng, mày đừng kiu tao là anh Tôn Lề, cũng đừng nhắc chiện tao chặt lóng tay vì con ba Lề.  Biết tại sao hong? Tại hồi cua con Hồng tao lỡ…nổ với nó, tao là lính biệt kích. Rồi, trong một trận đánh xáp lá cà với địch quân, tao bị một thằng cầm mả tấu chém đứt lóng tay nên được giải ngũ. Nhờ vậy mà chị Hồng mày mới phục và yêu tao. Chiện giữa hai anh em mình nhớ đừng tiết lộ nhen! Nhớ lợi hồi đó, trước ngày mày ra Trung, mày cũng còn thiếu “anh”mấy ngàn. Thôi thì, vì chiện này, “anh”…xù luôn cho mày đó.
   Ha ha…sao tui thương anh Tôn Lề, ý quên…anh Tôn hàng xóm hiền lành của tui ghê!

Hồ Xuân Ngọc


Monday, August 3, 2026

CON MA LẦU NAM PHƯƠNG - TRUYỆN NGẮN HỒ XUÂN NGỌC

 




CON MA LẦU NAM PHƯƠNG 

BÀI VIẾT CỦA EM TRAI HỒ XUÂN NGỌC 
ĐĂNG TRÊN The Little Saigon News (09-22-1995)

 

Đây là câu chuyện có thật, xảy ra 42 năm trước ở Huế. Nhóm chúng tôi năm đứa: Điểu, Tráng, Ngọc, Hiếu, và tôi. Tuy không học cùng trường, ...nhưng đều là những sinh viên xa nhà nên rất thân thiết. Thời gian ấy, ở Huế, thật vui. Tuổi mới lớn hồn nhiên và thắm thiết với tình bạn, với những kỷ niệm đẹp. Thời gian trôi nhanh. Tưởng như mới ngày hôm qua. Trong năm đứa, có đứa đã Vĩnh viễn nằm xuống, đứa còn ở lại, đứa tha phương trôi nổi. Viết lại chuyện này để nhớ về một thời rất đẹp, rất thơ mộng, và cũng rất buồn. Xin tất cả các bạn hãy cùng tôi về lại quá khứ nên thơ ở khoảng thời gian đã rất xa ấy...HXN.

Người ta đồn rùm lên là lầu Nam Phương Hoàng Hậu trong Đại Nội có ma. Ban đầu, tin được truyền đi từ quán cà phê ông Đường trong thành Nội, từ chính miệng của các sinh viên Mỹ Thuật và Quốc Gia Âm Nhạc. Nên nhớ, Trường MT và QGAN nằm gần lầu Nam Phương, do đó tin đồn đi từ gốc ra hẳn là xác tín lắm. 

Không đầy hai ngày sau, khắp các quán cà phê từ nội chí ngoại thành đều rôm rả tiếng người bàn tán. Chuyện con ma lầu Nam Phương được mấy anh sinh viên cho thêm nước mắm, rắc thêm muối, trộn thêm bột ngọt thành ghê gớm, khủng khiếp hơn cả chuyện con ma Vú...Dài trong trường Cây Mai ở Saigon.

Nguyễn Phi Điểu, sinh viên năm thứ hai cao đẵng Mỹ Thuật, quê Thanh Quít Quảng Nam, cùng ở chung một dãy nhà trọ với tôi, phùng mang trơn mắt vẽ thêm...nanh cho con ma, lúc tôi và nó cùng ba người bạn ngồi ăn sáng ở cà phê Bưu Điện cạnh trường trung học Bán Công Huế.

-Chính tai tao nghe rõ ràng. Ban đầu nó hú một tiếng thiệt dài. Sau đó thì cười sặc sụa. Rồi hát...ghê lắm. Đang ngồi tâm tình với con bồ bên hông trường phải bỏ chạy trối chết.
Tôi cười:
-Mày bỏ con bồ ở lại?
-Điểu trợn mắt:
-Đâu có! Con nhỏ chạy còn...lẹ hơn tao nữa. Bữa nớ tao đuổi theo muốn hụt hơi mà bắt hỏng kịp nó.
Hồ Ái Ngọc, không có bà con gì với tôi chỉ trùng tên và họ, năm thứ hai Văn Khoa, dân Hội An gốc Huế, lại bỏ thêm hành vào câu chuyện:

-Tau có bà dì ở hồ Tịnh Tâm gần nớ. Bả nói đêm mô cũng nghe nó hò...Huế.
Đinh Tráng (em hoạ sĩ Đinh Cường) cùng lớp với Điểu, nhướng cặp mắt hí rải thêm ngò cho đủ vị tả pín lù:

-Tao ở sau trường Mỹ Thuật nghe còn rõ nữa. Mà sao...có lúc tao lại nghe loáng thoáng nó hát bài "Lạnh Trọn Đêm Mưa" mới kỳ chớ! Hỏng lẻ ma...tân thời, mới chết nên thuộc toàn nhạc thịnh hành?
Tôi không nhịn được cười, hỏi:

-Mà...tụi mày nghe giọng gái hay trai?
-Hình như con trai. Cũng có khi nghe eo éo như đàn bà.
Thằng Điểu rùng mình:

-Làm mấy bữa nửa đêm mắc đái, tao hỏng dám ra ngoài.
Tôi gặng:
-Rồi mày làm sao?
Điểm cười hề hề:
-Thì chỉa ra cửa sổ chứ sao nữa.
Tôi đá vô chân Điểu:

-Hèn chi mấy cái áo thun tao phơi ngoài cửa ướt mèm, còn hăn hắt mùi khai.
Điểm xoa chân, giả lả
-Bộ mi hỏng lấy khăn lau mặt của tao chùi giày sao?
Hồ Ái Ngọc tợp một ngụm cà phê, nút nút cục nước đá xong phun toẹt xuống đất, nói:

-Bữa mô tụi mình kéo nhau vô lầu Nam Phương ngủ lại một đêm, coi ma có dám ra hát nữa không.
Đinh Tráng hăng tiết canh:

-Ừ...phải đó. năm thằng mình hỏng lẻ sợ con ma sao.
Hoàng Trọng Hiếu cùng lớp với Hồ Ái Ngọc, gốc Hội An. Từ nãy đến giờ cặm cụi đá cho sạch dĩa sôi im lặng không nói gì, giờ mới lên tiếng:

-Thằng mô nói cũng ngon lắm...tới hồi đụng chuyện toàn bị sốt rét hết.
Tôi nháy mắt với Hiếu, gài độ:

-Kỳ này chính miệng tụi nó đề nghị, có sốt rét cũng phải đi. Đừng lo Hiếu à.
Tráng cười gằn:
-Được rồi. Để coi thằng nào chạy đạn trước.
Ngọc hăm hở nói:
-Tao đề nghị tối thứ sáu tuần tới vô trong nớ ngủ. Đồng ý chưa?
Tôi nhái giọng Huế, giỡn:
-Đù mạ thằng mô giả bộ bị sốt rét bỏ chạy.
Tụi tôi chia tay nhau trước ty Thông Tin bên kia cầu Trường Tiền. Tráng, Điểu và tôi về phòng trọ trong thành Nội. Ngọc và Hiếu dắt nhau về cư xá sinh viên Quảng Đà ở Huỳnh Thúc Kháng.

Dãy nhà trọ của tụi tôi nằm trong khuôn viên nhà thờ Nguyễn Phước Tộc, còn được gọi là Tôn Nhơn Phủ đối diện với cửa Đại Nội, cạnh công viên bên đường Đinh Bộ Lĩnh. Chung quanh Tôn Nhơn Phủ có tường cao bao bọc. Khung cảnh vắng vẻ, yên tĩnh tách rời hẳn phố xá ồn ào ngoài thành, rất thích hợp cho việc học hành. Ngoài ra, còn có quán cà phê ông Đường xéo ngay cổng và cà phê ông Tôn gần đó, thật tiện việc ký sổ...nợ cho đám sinh viên nghèo như tụi tôi.

Từ cổng Tôn Nhơn Phủ đi vào dãy nhà trọ của tụi tôi khá xa. Dọc theo lối đi có những luống rau Lang xen kẽ với đám cây Tùng và Nhãn cao quá nóc nhà, cành lá xum xuê tỏa bóng, mát luôn cả khoảng sân rộng trước mấy căn phòng của tụi tôi. Ban ngày cảnh trí có vẻ tình tứ, thơ mộng. Nhưng khi đêm về lại âm u ma quái, tạo sợ hãi cho những người yếu bóng vía. Đối với tụi tôi, sống ở đây cả năm trời, quá quen với cảnh đi khuya về muộn nên chẳng có gì đáng sợ hết.
Đang lui cui mở khoá cửa phòng thì Nhuỵ từ đâu chạy đến vỗ vai tôi, giọng vui vẻ:

-Chờ anh từ sáng tới chừ đói muốn xỉu luôn.
Tôi ngạc nhiên, hỏi:
-Nhuỵ chờ anh làm gì?
-Chờ dẫn anh đi ăn.
-Trúng mánh hả Nhuỵ?
Nhụy gật đầu.

Nhụy là em bà con của anh Tôn chủ nhà trọ. Mới 17 tuổi nhưng mặt nó trông già...gấp đôi mặt tôi. Trong nhóm sinh viên trọ học ở đây, nó chỉ thích một mình tôi. Chỉ vì tôi chịu khó đàn cho nó nghe và hát những bản nhạc nó yêu cầu.
-Anh vừa mới ăn với mấy thằng bạn xong.
Mặt Nhuỵ lộ vẻ thất vọng. Nó nài nỉ:

-Kệ. Đi với tui cho vui. Không ăn được nữa thì uống cà phê.
Bóp lại ổ khoá, tôi theo nó ra quán ông Đường. Lựa cái bàn ngoài sân cạnh cây Nhãn, nó kéo tôi ngồi xuống.
-Ăn thêm tô bún hỉ?
-Thôi...kêu cho anh ly cà phê sửa đá được rồi.
Nhìn nó hì hục ăn tô bún, tôi hỏi:

-Nhuỵ vô mánh gì bữa nay vậy?
Xuýt xoa vì ăn miếng ớt, Nhuỵ nói lúng búng:

-Mới vớt được chiếc xe đạp ngoài cửa Thượng Tứ hồi sáng. Vừa "đẩy" xong là chạy vội về kiếm anh. Biết đợi lâu rứa tui đi ăn trước cho rồi.
Tôi nói:

-Làm riết có ngày vô khám nha em.
Nhụy ngang tàng:
-Thằng ni mô có sợ chi ai anh.

Nhụy nói thiệt. Khắp mấy con đường chung quanh Tôn Nhơn Phủ ai mà không ớn nó? Ăn cắp, giật đồ, trộm xe, bắt gà là nó. Về đêm, ít có người nào dám lai vãng trên mấy con đường quanh đây. Kể cả công viên bên kia nơi hẹn hò lý tưởng của những cặp tình nhân cũng vắng hoe khi đêm xuống.

Kể ra, Nhuỵ cũng là đứa đáng thương. Mồ côi cha mẹ từ bé. Sống lây lất với vợ chồng anh Tôn cho đến lớn. Thiếu hẳn tình thương và sự giáo dục của gia đình. Học hành đang dở, nó đi dần vào con đường hư hỏng, bụi đời.

-Nhuỵ có nghe vụ con ma lầu Nam Phương chưa?
Đang ăn, nó ngưng lại nhìn tôi, ngập ngừng:

-Ma? Chỗ mô anh?
-Lầu Nam Phương Hoàng Hậu trong Đại Nội.
-À...có có...tui còn chộ thấy hắn nữa.
Tôi hỏi dồn:

-Thiệt hong?
-Láo...chết liền.
Tôi nghiêm nghị nhìn nó:

-Nhuỵ thấy sao kể anh nghe coi.
Nhuỵ kéo vạt áo chùi miệng, hắng giọng:

-Tối nớ tui đi qua nhà bạn gái chơi. Lúc đi ngang qua hồ Tịnh Tâm thì nghe có tiếng hát văng vẳng trên cây Tùng cạnh lầu Nam Phương...
Tôi ngắt ngang:

-Tại sao Nhuỵ lại đi vào trong đó? Sao không đi ngoài đường có đèn điện sáng sủa hơn?
Nhuỵ ấp úng:

-Thì tui muốn đi tắt cho gần rứa mà.
-Rồi sao nữa? Ban đêm nghe tiếng hát trên cây bên lầu hoang. Bộ Nhuỵ hong sợ sao?
Nhụy nhăn răng cười:

-Rứa mới chạy sút quần...hì hì-đang cười nó bổng nghiêm nét mặt- khi tới gần cây Tùng nhìn lên, tui thấy một bóng đen ngồi vắt vẻo ngay nhánh cây sát cửa sổ trên lầu. Hai chân nó đong đưa xào xạt theo tiếng lá. Tui run giọng hỏi lớn "ai rứa?". Con ma từ từ quay lại...mạ ơi, chộ cái mặt hắn là hồn bất phụ thể...tui co giò chạy trối chết.
Tôi hồi hộp, hỏi:

-Mặt nó ra sao?
Nhuỵ rùng mình:

-Ui chau! Hai con mắt xanh lè, cái miệng đỏ lòm thấy mà ớn. Nó còn le lưỡi dài cả thước nhát tui. Chưa khi mô tui chộ cái lưỡi chi mà...dài như rứa.
-Nó có rượt theo Nhuỵ hong?
Nhuỵ lắc đầu. Tôi định nói cho nó nghe ý định vào lầu Nam Phương ngủ rình ma, nhưng lại thôi. Nhìn nét mặt thất thần của nó có rủ cũng vô ích.

-Từ nay có ai cho vàng tui cũng không dám đi ngang qua chổ nớ.
Nhuỵ đứng lên đi vào trong quán. Lúc trở ra, nó thẩy gói thuốc Capstan lên bàn:

-Anh cất gói nớ đi. Tui trả hết khoảng tiền ký sổ của anh rồi.
Tôi ngượng ngùng:

-Nhuỵ cứ trả nợ cho anh hoài, làm anh khó chịu quá.
Nhuỵ xua tay:

-Ui chau! Của thiên trả địa lo nghĩ chi cho mệt anh ơi.
Câu nói vô tình của Nhuỵ làm tôi thêm khó chịu. Nó đã và đang giúp tôi bằng những khoảng tiền không lương thiện. Tuy rằng sự giúp đỡ phát xuất từ chính lòng thương cảm của nó dành cho tôi, một gã sinh viên nghèo xa nhà, thiếu thốn. Nhưng, vô hình chung, tôi lại trở thành kẻ đồng loã bất đắc dĩ trong những dịch vụ phi pháp của nó. Tôi buồn bã nói:

-từ nay Nhuỵ đừng trả nợ cho anh nữa. Cứ để anh tự lo...rồi cũng xong mà.
-Việc lẻ tẻ rứa mà anh cứ nói hoài. Bỏ đi.
Nhuỵ lẻo đẻo theo tôi về phòng trọ. Nó im lặng nện mạnh bước chân bày tỏ thái độ giận dỗi hết sức dễ thương.

Lúc mở xong ổ khoá cửa, tôi quay lại thì Nhuỵ đã biến đi đâu mất biệt.
Cái vụ rủ nhau vào lầu Nam Phương rình ma. Ban đầu, đứa nào cũng có vẻ hào hứng và hăng hái lắm. Nhưng càng gần ngày hẹn lòng hăng hái, náo nức xẹp dần. 

Hồ Ái Ngọc, miệng hùm gan sứa, kẻ đã đề xướng ra vụ bắt ma, mặt xanh xao thấy rõ. Đinh Tráng thì biệt dạng phương nào kiếm chẵng ra. Rốt cuộc, chỉ còn tôi, Điểu và Hiếu là gắn bó với kế hoạch.

Những ngày gần đây, sinh viên hai trường Mỹ Thuật và Âm Nhạc bị mất xe đạp rất nhiều. Đơn khiếu nại mất xe của sinh viên hầu như ngày nào cũng có ở văn phòng hai trường. Sự việc nghiêm trọng đến nỗi cảnh sát phải vào cuộc để điều tra. Mỗi ngày, ngoài những nhân viên cảnh sát đồng phục gát cổng, còn có thêm một nhân viên cảnh sát chìm ngồi ở quán cà phê ông Đường dòm chừng vào cửa Đại Nội, nơi ra vào độc nhất của hai trường. Đôi mắt dấu sau cặp mắt kính...dái dê đen kịt của các vị cảnh sát chìm này hầu như chả bao giờ rời khỏi cửa Đại Nội. Nhưng khả năng chìm của vị này...nổi quá, nên xe đạp vẫn mất dài dài một cách bí mật.

Chính vì cặp mắt...cú vọ của mấy vị cảnh sát mà tụi tôi phải dời ngày rình ma lại vào tối thứ Bảy. Thứ Bẩy, trường đóng cửa. Thứ Bẩy, các vị cảnh sát ở nhà hú hí với vợ con. Chúng tôi có thể ra vào Đại Nội mà không bị hỏi căn cước và làm khó dễ. 

Chiều thứ Bảy, tôi và Điểu kéo nhau xuống cư xá Quảng Đà rủ Hiếu. Tới nơi, Hiếu đã sẵn sàng ngồi chờ nơi phòng tiếp tân của cư xá. Hiếu nhe hàm răng khểnh ra cười:

-Tưởng tụi mi bị sốt rét đeo xe lửa trốn vô Đà Nẵng rồi.
Điểm ưởn ngực:

-Quân tử nhất ngôn. Nhất điểu nhì ngư mà mi.
Hiếu xách túi đứng lên đề nghị:

-Qua rạp Châu Tinh ăn bún hỉ?
-Cũng bún mụ Rớt nữa-Điểu chán nãn lắc đầu.
Tôi đưa ý kiến:

-Tới cửa Thượng Tứ ăn bánh khoái rồi ghé phòng tao lấy đồ cho gần.
Vừa vòng qua đường Phan Bội Châu, Hiếu hỏi nhỏ:

-Thằng mô lo vụ ni đây bây?
-Vụ gì?
-Trả tiền bánh khoái.
Điểm hùng dũng vỗ vào túi quần.
-Đừng lo! Năm sáu đức thánh Trần nằm trong ni. Má tao mới gửi người quen mang ra cho tao. Bảo đảm...bảo đảm.

Tiệm bánh khoái xéo bên cửa Thượng Tứ tuy lụp xụp, nhưng ngon không đâu bằng. Tôi và Hiếu dày vò mấy Đức thánh Trần của Điểu bằng cách ăn ngấu nghiến với tất cả sức lực của mình. Xem chừng, cuộc chiến đấu tối nay với con ma lầu Nam Phương chắc gay cấn lắm...phải ăn cho lại sức chứ.

Ba đức thánh Trần từ giả Điểu cùng với khuôn mặt...kém vui của nó. Hiếu không quên nhắc khéo mua thêm gói thuốc để cầm cự với sương đêm.

Về đến phòng trọ, đồ đạc đã được xếp vào túi sẵn từ sớm. Tôi và Điểu khoá cửa cẩn thận, rồi đeo túi lên vai cùng Hiếu thả bước vào Đại Nội.

Nắng chỉ còn le hoe, hiu hắt trên chóp kỳ Đài nơi Ngọ Môn. Con đường trải đá dẫn vào lầu Nam Phương hun hút lạnh lùng dưới những tàng cây cổ thụ rậm rì. Gió luồn lách xào xạc cành lá. Gió lách mình qua mái ngói của ngôi lầu hoang phế rít khẽ trên những bức tường thành ẩm mốc, loang lổ. Xa xa nơi khúc rẽ cuối đường, hơi sương lờ mờ tỏa xuống quấn quít đầu cây ngọn cỏ, lan dần trên mặt đường như muốn nuốt chững vạn vật theo ánh mặt trời chết lịm ngoài thành. Thỉnh thoảng, vài tiếng chim lạ kêu vang thảng thốt rồi tắt nghẽn vào bóng đêm vừa xuống.

Lầu Nam Phương nơi làm nghẽn mạch máu của những người yếu tim. Nơi mà ban ngày ít có người nào dám đến gần. Hãy nhìn căn lầu mênh mông, hoang vắng cũ kỹ cùng những cánh cửa sổ gẫy lìa, ẩn hiện trong đám Tùng Bách trăm năm già cỗi. Và, hãy nhìn hình dáng điêu tàn mốc meo, xám xịt của ngôi nhà đã bao năm không người ở, mới cảm thấy cái ma quái rợn người phảng phất trong không khí ở quanh đây.

Đến cuối khúc quẹo, tụi tôi rẽ trái vào con đường nhỏ dẫn vào lầu Nam Phương. Tôi không khỏi bồi hồi khi vạch lá lần từng bước trên con đường ngày xưa đã bao lần hứng gót sen của hoàng hậu Nam Phương. Vậy mà giờ đây hoang phế đầy cỏ dại.
Cả bọn mò đến cánh cổng sắt rỉ sét trước lầu Nam Phương thì đã thấm mệt. Hiếu thì thào:

-Tắt đèn pin ngồi nghỉ mệt chút đi.
Nhìn bức tường và cánh cửa sắt cao nghệu, Điểu lắc đầu ngao ngán:

-Kiểu ni chắc tiêu hết mấy cái bánh Khoái trong bụng tao rồi.
Đêm đen kịt đáng sợ theo những tiếng động và âm thanh rên rỉ của côn trùng vẳng lại, cộng thêm ánh chớp lập loè từ những con đôm đốm trong bóng đêm làm tụi tôi chột dạ. Chùi bàn tay ướt nhẹp mồ hôi vào vạt áo, tôi hỏi nhỏ:

-Sao? Leo vô được chưa tụi bay?
-Đứa mô vô trước? Điểu hỏi.
Hiếu chụp cánh cổng sắt lắc thử.
-Chắc lắm! Để tao leo vô trước cho.

Khi đã vào hẵn bên trong, Hiếu rọi đèn bấm cho tôi và Điểu leo vào. Tụi tôi chạy vội qua khoảng sân rộng ngập đầy lá rồi dừng lại trên thềm lầu. Hai cánh cửa trước bằng gỗ đã mục nát ngã xiên dưới hiên nhà. Hiếu quét một vòng đèn pin vào bên trong tiền đường: trống rỗng. Bụi bặm và mạng nhện giăng đầy mọi góc. Tôi nói:

-Dưới này dơ quá! Lên lầu coi thử có khá hơn không.
Hiếu ngần ngừ giao đèn pin lại cho tôi, giọng nó hơi run:
-Mi đi trước dẫn đường hỉ.
Tôi cầm cây đèn pin làm bộ cứng:

-Tụi bay theo tao.
Trên lầu cũng trống trơn nhưng được cái sạch sẽ và thoáng khí hơn ở dưới. Tôi gọi Điểu:

-Lấy đèn cầy đốt lên đi Điểu.
Điểm cắm cây đèn sáp nơi góc phòng, trong lúc tôi và Hiếu kiểm soát mấy cánh cửa sổ. Không còn cánh cửa nào nguyên vẹn. Tất cả đều xiên xẹo sút bản lề. Cánh cửa thông ra phòng phía trước ổ khoá đã sét cứng không mở được. Gió đêm thổi luồn qua bốn khung cửa sổ mở rộng, làm nổi gai theo tiếng dong đưa kẽo kẹt của mấy cánh cửa mục nát.

Tụi tôi trải tấm bạt xuống sàn gần khung cửa có nhánh Tùng vắt ngang bên ngoài. Nhớ lời Nhuỵ kể, tôi đoán con ma đã ngồi trên cành này nhát Nhuỵ. Cho đến bây giờ, thật tình mà nói, tôi vẫn không tin có chuyện ma quỉ hiện hình. Nhưng nói nào ngay, khung cảnh hoang liêu ở đây không khỏi làm tôi hoảng sợ. Tôi dấu bặt Hiếu và Điểu chuyện Nhuỵ gặp ma tại lầu này, để lòng can đảm của tụi nó khỏi bị sút giảm.
Trải xong tấm bạt. Hiếu thắc mắc:

-Sao không ngủ giữa phòng mà lại nằm gần cửa sổ?
Tôi giải thích:

-Nằm ở đây mình có thể quan sát được ba cửa sổ còn lại. Hơn nữa-tôi đùa-nếu ma nó đu vào cửa sổ trên đầu mình, thì mình còn có cơ hội đá ngược cho nó văng ra ngoài chớ.

Tiếng hú nhọn buốt vang lên vào khoảng gần nửa đêm làm tụi tôi giật điếng người. Ban đầu, tiếng hú nghe thật xa như ở bên kia hồ Tịnh Tâm. Càng về sau, tiếng hú thật gần như thể đã lọt vào khuôn viên lầu Nam Phương. Tụi tôi muốn đứng tim vì sợ hãi. Sáu con mắt trợn trừng trong bóng đêm. Ánh nến bập bùng nơi góc phòng tắt phụt vì cơn gió đập mạnh bên ngoài.

Giọng cười the thé dội lên từ dưới lầu như cục nước đá chà xát vào làn da đang nổi gai của tụi tôi. Rồi, tiếng chân kéo lê lần theo cầu thang lên lầu. Giọng cười bổng đổi thành tiếng khóc nỉ non rên rỉ.

Hừ...hừ...trả...nhà...lại...hừ...hừ...nhà...của...tau...răng bây dám...vào...hừ...hừ...
Tụi tôi nằm cứng đơ như xác chết. Hùng khí ban đầu bốc hơi theo những giọt mồ hôi rịn ướt áo. Cây đèn pin mò tìm run rẩy, sẩy tay lăn mất ngõ nào.

Tiếng chân xoàn xoạt kéo lê gần hết cầu thang thì ngưng lại. Tôi nghe thật rõ hơi thở phì phò của con ma đâu đó nơi khoảng tối phía cầu thang. Sự sợ hãi tưởng chừng như bóp nghẹt hơi thở tôi. Tôi mườn tượng ra một khuôn mặt xanh lè, cái lưỡi dài thòn đỏ choét sắp liếm vào mặt mình. Rồi đôi bàn tay với những móng tay nhọn hoắc cắm sâu vào cổ. Làm sao đây?

Mười phút trôi qua trong im lặng...tôi lay nhẹ cánh tay Điểu, nhưng lại có cảm giác như đang chạm vào một cây nước...đá lạnh ngắt.
-Điểu...Điểu.
Điểu chận tay tôi xuống, thều thào:

-Im...nằm im.
Con ma bay ra cây Tùng ngoài cửa sổ lúc nào chẳng biết. Khi tiếng hú của nó xoáy vào phòng thì bóng nó đã lù lù hiện lên trên khung cửa sổ. Hồn bất phụ thể, tôi hét một tiếng lớn rồi đá ngược hai cẳng vào bóng con ma. Đây có lẽ là cú đá mạnh và tuyệt vời nhất kể từ khi tôi mang đai đen nhất đẳng Thái Cực Đạo.
Bịch...hự...
Chân tôi chạm vào một khối thịt mềm nhũn. Con ma bật ra ngoài cửa sổ rơi xuống đất theo tiếng gẫy răn rắc của những cành Tùng.
Một phút im lặng.

Bỗng, tiếng hú lại cất lên bên dưới. Lần này, giọng hú yếu hẳn pha lẫn tiếng rên rĩ đau đớn rồi xa dần...xa dần. Cuối cùng, tiếng hú tắt nghẽn bên kia hồ Tịnh Tâm.
Sau đêm đó, tụi tôi cải nhau chí choé. Điểu và Hiếu cứ khăng khăng là ma thiệt. Không đồng ý với tụi nó. Tôi hỏi:

-Nếu ma thiệt...làm sao tao đá nó rớt xuống đất chớ?
Hiếu cãi:

-Mi đá hắn hồi mô? Răng tao không thấy?
-Mày sợ quá xỉu ngay đơ còn thấy gì nữa.
Điểu xen vào:

-Rứa tao răng? Tao đâu có xỉu. Răng tao cũng đâu thấy mi đá hắn?
Tức quá, tôi chỉ tay vào túi xách treo trên tường:
-Vậy thì thằng nào giật túi xách của tao trùm vô đầu?
Điểu quê độ làm thinh. Tôi đá mạnh cái ghế bỏ ra ngoài. Bực bội, tôi thả bộ ra quán cà phê ông Đường. Nhuỵ đang ngồi uống cà phê bên cái bàn ngoài sân. Thấy tôi, nó mừng rỡ gọi:

-Anh Ngọc.
Gặp thần Tài, tôi mừng húm băng vội qua đường.
-hồi nãy vô rủ anh đi uống cà phê nhưng thấy anh đang nói chuyện với bạn, nên tui ra đây ngồi chờ. Cà phê hỉ?
Tôi hỏi:

-Nhuỵ đi đâu mấy bửa nay hong thấy?
Nhụy ngập ngừng:

-Tui tới nhà bà cô chơi.
Tôi kéo ghế ngồi xuống, vô tình đụng vào chân Nhuỵ. Nó nhăn nhó ôm chân. Tôi thấy bàn chân trái của nó xưng vù băng quấn lên tận mắt cá. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Ủa...chân Nhuỵ sao vậy?
Nhụy làm thinh cầm ly cà phê uống từng ngụm nhỏ. Xong, nó dằn mạnh ly cà phê xuống bàn, buột miệng chửi thề:

-Đù mạ hắn...tức chết đi được.
-Chuyện gì vậy Nhuỵ?
Nhụy dòm quanh quất rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, nói: 

-Chỗ anh em, tui nói cái ni anh đừng nói lại cho ai nghe hỉ.
Tôi cười cười vỗ vai nó:

-Đừng lo. Anh không nói cho ai nghe đâu.
Nhuỵ cúi xuống tay xoay xoay ly cà phê trên bàn. Nó hỏi tôi với giọng trầm trầm vừa đủ nghe, như thể sợ ai đó đang lắng nghe lời của nó:

-Anh biết hồ Tịnh Tâm? Anh biết những vụ mất xe trong Đại Nội? Anh biết chuyện con ma lầu Nam Phương?
Nhuỵ hỏi một hồi rồi nhìn tôi chờ đợi. Tôi gật đầu. Nhuỵ từ tốn nói tiếp:

-Tôi chính là người ăn cắp những chiếc xe đạp trong trường Mỹ Thuật và Âm nhạc. Anh tin không?
Tôi giật mình:

-Té ra là Nhuỵ...rồi Nhuỵ dấu ở đâu? Làm cách nào Nhuỵ đem xe ra được?
Quên cả đau, Nhuỵ nở nụ cười láu cá:

-Rứa mới hay. Anh biết tui dấu chỗ mô không?
Thấy tôi đực mặt ra, nó khoái chí tợp một ngụm cà phê rồi nói tiếp:

-Hồ Tịnh Tâm. Vớt được chiếc mô tui quăng xuống hồ. Tối đến chỉ việc kéo lên đạp qua bên kia hồ, luồn lỗ chó dưới chân tường ra ngoài thành là xong.
Tôi khen:

-Nhuỵ hay thiệt! Hèn chi cảnh sát gát cổng thành ngày đêm mà không bắt được thủ phạm.
-Chưa hết đâu anh! Muốn chắc ăn khỏi bị lộ tẩy. Hằng đêm, tui giả làm ma gào, qủi khóc ở lầu Nam Phương cạnh hồ để không ai dám léo hắn tới.
Tôi lại giật mình lần nữa. Chẳng lẽ con ma lãnh trọn cú đá thực mạng của tôi lại là Nhuỵ, thằng em ơn nghĩa này sao?
Tay xoa ngực, mắt nhìn xuống cái chân đau, Nhuỵ nghiến răng:

-Tối hôm kia có mấy thằng ôn dịch ở mô không biết, tự dưng vào trong nớ ngủ lại.
Tôi làm bộ hỏi:

-Vào trong nào?
Nhụy tức tối:

-Lầu Nam Phương chứ mô nữa! Gần nửa khuya tính vào hồ kéo xe đạp lên thì thấy có ánh nến trên lầu. Lại nghe tiếng nói chuyện rù rì của hai ba người. Loáng thoáng có giọng thật quen, nhưng nhỏ quá tui nhận không ra. Tui đoán mấy tay ni muốn rình coi ma, nên lẳng lặng qua bên kia hồ ngồi chờ, đến nửa đêm sẽ trở lại hù một mẻ để mấy thằng ôn dịch chạy té đái chơi cho kinh hồn. Hết dám vào đây phá đám.
Với gương mặt căng thẳng, tôi giả vờ hồi hộp hỏi:

-Rồi...Nhuỵ có trở lại hong?
-Răng không! Tui hú, tui rên, tui làm đủ trò. Tui mò lên lầu. Nhưng, tối quá không dám bước gần chỗ tụi hắn nằm ngủ cạnh cửa sổ. Tui sợ tụi hắn thủ gậy bổ cho một cái là rồi đời. Mà...kể ra tụi hắn cũng gan thiệt, tui dọa rứa mà chẳng có đứa mô chạy hết. Chợt nhớ đến nhánh Tùng gần cửa sổ nơi tụi hắn nằm, tui đi xuống vòng ra cây Tùng, leo lên đu theo cành bám vào cửa sổ. Vừa mới mở miệng hú chưa dứt thì...mụ nội ơi...nghe một cái...bịch vô ngực. Tui bật ngửa rớt xuống đất...xỉu một chập mới tỉnh dậy-Nhuỵ ngưng lại mồi điếu thuốc, rít một hơi lấy trớn rồi tiếp-lúc tỉnh dậy, mình mẩy rêm hết trơn. Chân trái bị trật đau thấu trời. Vậy mà tui cũng phải ráng sức hú thêm vài tiếng cho mấy thằng nớ chùn chân đừng đuổi theo. Rồi...tui ráng lết về nhà bà cô bên kia hồ.
Tôi nhìn Chân Nhuỵ ái ngại:

-Chắc còn đau lắm hả?
Nhuỵ trợn mắt tức tối:

-Răng không! Nó nghiến răng-Nói thiệt, tui mà biết được thằng mô đạp tui tối nớ. Tui...tui...bằm nó ra cho...vịt ăn mới hả cơn giận. Đồ...ôn hoàng dịch vật.

Tôi ngoảnh mặt sang nơi khác, cố giấu nụ cười "ôn hoàng dịch vật" của mình, trong lúc Nhuỵ nhăn nhó đứng lên, bước thấp bước cao vào quán trả tiền. Vừa đi, miệng nó vừa lẩm bẩm như thể đang nguyền rủa ai đó... Hết.

Hồ Xuân Ngọc.
(09.22.1995)