TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Monday, November 2, 2026

THU RỪNG - THƠ DƯƠNG QUÂN

 

 
 
THU RỪNG

     (Tặng Viên Sỏi Nhỏ)

Rừng đã vào thu, Viên Sỏi ơi!
Em bên góc biển tận ven trời
Có hay từng lá vàng thay áo
Anh nhớ về em. Nhớ chẳng nguôi.

Anh đang đi nhặt lá thu rừng
Tìm lại mùa qua, dấu vết xuân
Thuở tóc còn  xanh, Viên Sỏi nhỏ
Thuở tình vừa chớm mến yêu anh"

Sỏi ơi! Viên Sỏi vẫn còn lăn
Tiếng nói yêu nhau đã muộn màng
Anh ở trên rừng, nghe vẳng tiếng
Ngựa già lộng hí cảnh chiều hoang.

Anh ở trên rừng cũng muốn tu
Nhớ Viên Sỏi Nhỏ lại chần chờ
Muốn bơi ra biển cùng Viên Sỏi
Lăn lóc bên nhau suốt bốn mùa.

Ước gì anh hoá kiếp rong rêu
Góc biển lênh đênh buổi sớm chiều
Ôm ấp ân tình Viên Sỏi nhỏ
Nói lời tha thiết của thương yêu.

Anh không màng nữ sĩ, công nương
Không ước trăng sao viễn mộng thường
Chỉ thiết tha cùng Viên Sỏi Nhỏ
Lẻ loi, thầm lặng nét khiêm cung.

Nơi em chắc chẳng có mùa thu
Biển vắng quanh năm thẩm một màu
Anh đốt lá rừng, em sưởi ấm
Sỏi ơi! Hãy đợi nối vần thơ.

Vào thu, anh nhớ quá đi thôi
Giấc mộng trăm năm đã muộn rồi
Anh ở ven rừng nghe phía biển
Thì thầm tiếng nhỏ gọi: "Anh ơi!"


             Dương Quân


*Với ý tưởng cố gắng nối kết hai đại thể của thiên nhiên là Rừng và Biển, tác
giả đã mượn hình ảnh của Lá Rừng, Rong Rêu, Viên Sỏi, làm chất liệu, lồng
trong chuyện tình yêu nhằm ca ngợi: "Biển-Rừng muôn thuở kết yêu thương"



Saturday, October 31, 2026

CON MA LẦU NAM PHƯƠNG - TRUYỆN NGẮN - HỒ XUÂN NGỌC (Chuyện thật của tác giả thời sinh viên)

 




CON MA LẦU NAM PHƯƠNG 

BÀI VIẾT CỦA EM TRAI HỒ XUÂN NGỌC 
ĐĂNG TRÊN The Little Saigon News (09-22-1995)

 

Đây là câu chuyện có thật, xảy ra 42 năm trước ở Huế. Nhóm chúng tôi năm đứa: Điểu, Tráng, Ngọc, Hiếu, và tôi. Tuy không học cùng trường, ...nhưng đều là những sinh viên xa nhà nên rất thân thiết. Thời gian ấy, ở Huế, thật vui. Tuổi mới lớn hồn nhiên và thắm thiết với tình bạn, với những kỷ niệm đẹp. Thời gian trôi nhanh. Tưởng như mới ngày hôm qua. Trong năm đứa, có đứa đã Vĩnh viễn nằm xuống, đứa còn ở lại, đứa tha phương trôi nổi. Viết lại chuyện này để nhớ về một thời rất đẹp, rất thơ mộng, và cũng rất buồn. Xin tất cả các bạn hãy cùng tôi về lại quá khứ nên thơ ở khoảng thời gian đã rất xa ấy...HXN.

Người ta đồn rùm lên là lầu Nam Phương Hoàng Hậu trong Đại Nội có ma. Ban đầu, tin được truyền đi từ quán cà phê ông Đường trong thành Nội, từ chính miệng của các sinh viên Mỹ Thuật và Quốc Gia Âm Nhạc. Nên nhớ, Trường MT và QGAN nằm gần lầu Nam Phương, do đó tin đồn đi từ gốc ra hẳn là xác tín lắm. 

Không đầy hai ngày sau, khắp các quán cà phê từ nội chí ngoại thành đều rôm rả tiếng người bàn tán. Chuyện con ma lầu Nam Phương được mấy anh sinh viên cho thêm nước mắm, rắc thêm muối, trộn thêm bột ngọt thành ghê gớm, khủng khiếp hơn cả chuyện con ma Vú...Dài trong trường Cây Mai ở Saigon.

Nguyễn Phi Điểu, sinh viên năm thứ hai cao đẵng Mỹ Thuật, quê Thanh Quít Quảng Nam, cùng ở chung một dãy nhà trọ với tôi, phùng mang trơn mắt vẽ thêm...nanh cho con ma, lúc tôi và nó cùng ba người bạn ngồi ăn sáng ở cà phê Bưu Điện cạnh trường trung học Bán Công Huế.

-Chính tai tao nghe rõ ràng. Ban đầu nó hú một tiếng thiệt dài. Sau đó thì cười sặc sụa. Rồi hát...ghê lắm. Đang ngồi tâm tình với con bồ bên hông trường phải bỏ chạy trối chết.
Tôi cười:
-Mày bỏ con bồ ở lại?
-Điểu trợn mắt:
-Đâu có! Con nhỏ chạy còn...lẹ hơn tao nữa. Bữa nớ tao đuổi theo muốn hụt hơi mà bắt hỏng kịp nó.
Hồ Ái Ngọc, không có bà con gì với tôi chỉ trùng tên và họ, năm thứ hai Văn Khoa, dân Hội An gốc Huế, lại bỏ thêm hành vào câu chuyện:

-Tau có bà dì ở hồ Tịnh Tâm gần nớ. Bả nói đêm mô cũng nghe nó hò...Huế.
Đinh Tráng (em hoạ sĩ Đinh Cường) cùng lớp với Điểu, nhướng cặp mắt hí rải thêm ngò cho đủ vị tả pín lù:

-Tao ở sau trường Mỹ Thuật nghe còn rõ nữa. Mà sao...có lúc tao lại nghe loáng thoáng nó hát bài "Lạnh Trọn Đêm Mưa" mới kỳ chớ! Hỏng lẻ ma...tân thời, mới chết nên thuộc toàn nhạc thịnh hành?
Tôi không nhịn được cười, hỏi:

-Mà...tụi mày nghe giọng gái hay trai?
-Hình như con trai. Cũng có khi nghe eo éo như đàn bà.
Thằng Điểu rùng mình:

-Làm mấy bữa nửa đêm mắc đái, tao hỏng dám ra ngoài.
Tôi gặng:
-Rồi mày làm sao?
Điểm cười hề hề:
-Thì chỉa ra cửa sổ chứ sao nữa.
Tôi đá vô chân Điểu:

-Hèn chi mấy cái áo thun tao phơi ngoài cửa ướt mèm, còn hăn hắt mùi khai.
Điểm xoa chân, giả lả
-Bộ mi hỏng lấy khăn lau mặt của tao chùi giày sao?
Hồ Ái Ngọc tợp một ngụm cà phê, nút nút cục nước đá xong phun toẹt xuống đất, nói:

-Bữa mô tụi mình kéo nhau vô lầu Nam Phương ngủ lại một đêm, coi ma có dám ra hát nữa không.
Đinh Tráng hăng tiết canh:

-Ừ...phải đó. năm thằng mình hỏng lẻ sợ con ma sao.
Hoàng Trọng Hiếu cùng lớp với Hồ Ái Ngọc, gốc Hội An. Từ nãy đến giờ cặm cụi đá cho sạch dĩa sôi im lặng không nói gì, giờ mới lên tiếng:

-Thằng mô nói cũng ngon lắm...tới hồi đụng chuyện toàn bị sốt rét hết.
Tôi nháy mắt với Hiếu, gài độ:

-Kỳ này chính miệng tụi nó đề nghị, có sốt rét cũng phải đi. Đừng lo Hiếu à.
Tráng cười gằn:
-Được rồi. Để coi thằng nào chạy đạn trước.
Ngọc hăm hở nói:
-Tao đề nghị tối thứ sáu tuần tới vô trong nớ ngủ. Đồng ý chưa?
Tôi nhái giọng Huế, giỡn:
-Đù mạ thằng mô giả bộ bị sốt rét bỏ chạy.
Tụi tôi chia tay nhau trước ty Thông Tin bên kia cầu Trường Tiền. Tráng, Điểu và tôi về phòng trọ trong thành Nội. Ngọc và Hiếu dắt nhau về cư xá sinh viên Quảng Đà ở Huỳnh Thúc Kháng.

Dãy nhà trọ của tụi tôi nằm trong khuôn viên nhà thờ Nguyễn Phước Tộc, còn được gọi là Tôn Nhơn Phủ đối diện với cửa Đại Nội, cạnh công viên bên đường Đinh Bộ Lĩnh. Chung quanh Tôn Nhơn Phủ có tường cao bao bọc. Khung cảnh vắng vẻ, yên tĩnh tách rời hẳn phố xá ồn ào ngoài thành, rất thích hợp cho việc học hành. Ngoài ra, còn có quán cà phê ông Đường xéo ngay cổng và cà phê ông Tôn gần đó, thật tiện việc ký sổ...nợ cho đám sinh viên nghèo như tụi tôi.

Từ cổng Tôn Nhơn Phủ đi vào dãy nhà trọ của tụi tôi khá xa. Dọc theo lối đi có những luống rau Lang xen kẽ với đám cây Tùng và Nhãn cao quá nóc nhà, cành lá xum xuê tỏa bóng, mát luôn cả khoảng sân rộng trước mấy căn phòng của tụi tôi. Ban ngày cảnh trí có vẻ tình tứ, thơ mộng. Nhưng khi đêm về lại âm u ma quái, tạo sợ hãi cho những người yếu bóng vía. Đối với tụi tôi, sống ở đây cả năm trời, quá quen với cảnh đi khuya về muộn nên chẳng có gì đáng sợ hết.
Đang lui cui mở khoá cửa phòng thì Nhuỵ từ đâu chạy đến vỗ vai tôi, giọng vui vẻ:

-Chờ anh từ sáng tới chừ đói muốn xỉu luôn.
Tôi ngạc nhiên, hỏi:
-Nhuỵ chờ anh làm gì?
-Chờ dẫn anh đi ăn.
-Trúng mánh hả Nhuỵ?
Nhụy gật đầu.

Nhụy là em bà con của anh Tôn chủ nhà trọ. Mới 17 tuổi nhưng mặt nó trông già...gấp đôi mặt tôi. Trong nhóm sinh viên trọ học ở đây, nó chỉ thích một mình tôi. Chỉ vì tôi chịu khó đàn cho nó nghe và hát những bản nhạc nó yêu cầu.
-Anh vừa mới ăn với mấy thằng bạn xong.
Mặt Nhuỵ lộ vẻ thất vọng. Nó nài nỉ:

-Kệ. Đi với tui cho vui. Không ăn được nữa thì uống cà phê.
Bóp lại ổ khoá, tôi theo nó ra quán ông Đường. Lựa cái bàn ngoài sân cạnh cây Nhãn, nó kéo tôi ngồi xuống.
-Ăn thêm tô bún hỉ?
-Thôi...kêu cho anh ly cà phê sửa đá được rồi.
Nhìn nó hì hục ăn tô bún, tôi hỏi:

-Nhuỵ vô mánh gì bữa nay vậy?
Xuýt xoa vì ăn miếng ớt, Nhuỵ nói lúng búng:

-Mới vớt được chiếc xe đạp ngoài cửa Thượng Tứ hồi sáng. Vừa "đẩy" xong là chạy vội về kiếm anh. Biết đợi lâu rứa tui đi ăn trước cho rồi.
Tôi nói:

-Làm riết có ngày vô khám nha em.
Nhụy ngang tàng:
-Thằng ni mô có sợ chi ai anh.

Nhụy nói thiệt. Khắp mấy con đường chung quanh Tôn Nhơn Phủ ai mà không ớn nó? Ăn cắp, giật đồ, trộm xe, bắt gà là nó. Về đêm, ít có người nào dám lai vãng trên mấy con đường quanh đây. Kể cả công viên bên kia nơi hẹn hò lý tưởng của những cặp tình nhân cũng vắng hoe khi đêm xuống.

Kể ra, Nhuỵ cũng là đứa đáng thương. Mồ côi cha mẹ từ bé. Sống lây lất với vợ chồng anh Tôn cho đến lớn. Thiếu hẳn tình thương và sự giáo dục của gia đình. Học hành đang dở, nó đi dần vào con đường hư hỏng, bụi đời.

-Nhuỵ có nghe vụ con ma lầu Nam Phương chưa?
Đang ăn, nó ngưng lại nhìn tôi, ngập ngừng:

-Ma? Chỗ mô anh?
-Lầu Nam Phương Hoàng Hậu trong Đại Nội.
-À...có có...tui còn chộ thấy hắn nữa.
Tôi hỏi dồn:

-Thiệt hong?
-Láo...chết liền.
Tôi nghiêm nghị nhìn nó:

-Nhuỵ thấy sao kể anh nghe coi.
Nhuỵ kéo vạt áo chùi miệng, hắng giọng:

-Tối nớ tui đi qua nhà bạn gái chơi. Lúc đi ngang qua hồ Tịnh Tâm thì nghe có tiếng hát văng vẳng trên cây Tùng cạnh lầu Nam Phương...
Tôi ngắt ngang:

-Tại sao Nhuỵ lại đi vào trong đó? Sao không đi ngoài đường có đèn điện sáng sủa hơn?
Nhuỵ ấp úng:

-Thì tui muốn đi tắt cho gần rứa mà.
-Rồi sao nữa? Ban đêm nghe tiếng hát trên cây bên lầu hoang. Bộ Nhuỵ hong sợ sao?
Nhụy nhăn răng cười:

-Rứa mới chạy sút quần...hì hì-đang cười nó bổng nghiêm nét mặt- khi tới gần cây Tùng nhìn lên, tui thấy một bóng đen ngồi vắt vẻo ngay nhánh cây sát cửa sổ trên lầu. Hai chân nó đong đưa xào xạt theo tiếng lá. Tui run giọng hỏi lớn "ai rứa?". Con ma từ từ quay lại...mạ ơi, chộ cái mặt hắn là hồn bất phụ thể...tui co giò chạy trối chết.
Tôi hồi hộp, hỏi:

-Mặt nó ra sao?
Nhuỵ rùng mình:

-Ui chau! Hai con mắt xanh lè, cái miệng đỏ lòm thấy mà ớn. Nó còn le lưỡi dài cả thước nhát tui. Chưa khi mô tui chộ cái lưỡi chi mà...dài như rứa.
-Nó có rượt theo Nhuỵ hong?
Nhuỵ lắc đầu. Tôi định nói cho nó nghe ý định vào lầu Nam Phương ngủ rình ma, nhưng lại thôi. Nhìn nét mặt thất thần của nó có rủ cũng vô ích.

-Từ nay có ai cho vàng tui cũng không dám đi ngang qua chổ nớ.
Nhuỵ đứng lên đi vào trong quán. Lúc trở ra, nó thẩy gói thuốc Capstan lên bàn:

-Anh cất gói nớ đi. Tui trả hết khoảng tiền ký sổ của anh rồi.
Tôi ngượng ngùng:

-Nhuỵ cứ trả nợ cho anh hoài, làm anh khó chịu quá.
Nhuỵ xua tay:

-Ui chau! Của thiên trả địa lo nghĩ chi cho mệt anh ơi.
Câu nói vô tình của Nhuỵ làm tôi thêm khó chịu. Nó đã và đang giúp tôi bằng những khoảng tiền không lương thiện. Tuy rằng sự giúp đỡ phát xuất từ chính lòng thương cảm của nó dành cho tôi, một gã sinh viên nghèo xa nhà, thiếu thốn. Nhưng, vô hình chung, tôi lại trở thành kẻ đồng loã bất đắc dĩ trong những dịch vụ phi pháp của nó. Tôi buồn bã nói:

-từ nay Nhuỵ đừng trả nợ cho anh nữa. Cứ để anh tự lo...rồi cũng xong mà.
-Việc lẻ tẻ rứa mà anh cứ nói hoài. Bỏ đi.
Nhuỵ lẻo đẻo theo tôi về phòng trọ. Nó im lặng nện mạnh bước chân bày tỏ thái độ giận dỗi hết sức dễ thương.

Lúc mở xong ổ khoá cửa, tôi quay lại thì Nhuỵ đã biến đi đâu mất biệt.
Cái vụ rủ nhau vào lầu Nam Phương rình ma. Ban đầu, đứa nào cũng có vẻ hào hứng và hăng hái lắm. Nhưng càng gần ngày hẹn lòng hăng hái, náo nức xẹp dần. 

Hồ Ái Ngọc, miệng hùm gan sứa, kẻ đã đề xướng ra vụ bắt ma, mặt xanh xao thấy rõ. Đinh Tráng thì biệt dạng phương nào kiếm chẵng ra. Rốt cuộc, chỉ còn tôi, Điểu và Hiếu là gắn bó với kế hoạch.

Những ngày gần đây, sinh viên hai trường Mỹ Thuật và Âm Nhạc bị mất xe đạp rất nhiều. Đơn khiếu nại mất xe của sinh viên hầu như ngày nào cũng có ở văn phòng hai trường. Sự việc nghiêm trọng đến nỗi cảnh sát phải vào cuộc để điều tra. Mỗi ngày, ngoài những nhân viên cảnh sát đồng phục gát cổng, còn có thêm một nhân viên cảnh sát chìm ngồi ở quán cà phê ông Đường dòm chừng vào cửa Đại Nội, nơi ra vào độc nhất của hai trường. Đôi mắt dấu sau cặp mắt kính...dái dê đen kịt của các vị cảnh sát chìm này hầu như chả bao giờ rời khỏi cửa Đại Nội. Nhưng khả năng chìm của vị này...nổi quá, nên xe đạp vẫn mất dài dài một cách bí mật.

Chính vì cặp mắt...cú vọ của mấy vị cảnh sát mà tụi tôi phải dời ngày rình ma lại vào tối thứ Bảy. Thứ Bẩy, trường đóng cửa. Thứ Bẩy, các vị cảnh sát ở nhà hú hí với vợ con. Chúng tôi có thể ra vào Đại Nội mà không bị hỏi căn cước và làm khó dễ. 

Chiều thứ Bảy, tôi và Điểu kéo nhau xuống cư xá Quảng Đà rủ Hiếu. Tới nơi, Hiếu đã sẵn sàng ngồi chờ nơi phòng tiếp tân của cư xá. Hiếu nhe hàm răng khểnh ra cười:

-Tưởng tụi mi bị sốt rét đeo xe lửa trốn vô Đà Nẵng rồi.
Điểm ưởn ngực:

-Quân tử nhất ngôn. Nhất điểu nhì ngư mà mi.
Hiếu xách túi đứng lên đề nghị:

-Qua rạp Châu Tinh ăn bún hỉ?
-Cũng bún mụ Rớt nữa-Điểu chán nãn lắc đầu.
Tôi đưa ý kiến:

-Tới cửa Thượng Tứ ăn bánh khoái rồi ghé phòng tao lấy đồ cho gần.
Vừa vòng qua đường Phan Bội Châu, Hiếu hỏi nhỏ:

-Thằng mô lo vụ ni đây bây?
-Vụ gì?
-Trả tiền bánh khoái.
Điểm hùng dũng vỗ vào túi quần.
-Đừng lo! Năm sáu đức thánh Trần nằm trong ni. Má tao mới gửi người quen mang ra cho tao. Bảo đảm...bảo đảm.

Tiệm bánh khoái xéo bên cửa Thượng Tứ tuy lụp xụp, nhưng ngon không đâu bằng. Tôi và Hiếu dày vò mấy Đức thánh Trần của Điểu bằng cách ăn ngấu nghiến với tất cả sức lực của mình. Xem chừng, cuộc chiến đấu tối nay với con ma lầu Nam Phương chắc gay cấn lắm...phải ăn cho lại sức chứ.

Ba đức thánh Trần từ giả Điểu cùng với khuôn mặt...kém vui của nó. Hiếu không quên nhắc khéo mua thêm gói thuốc để cầm cự với sương đêm.

Về đến phòng trọ, đồ đạc đã được xếp vào túi sẵn từ sớm. Tôi và Điểu khoá cửa cẩn thận, rồi đeo túi lên vai cùng Hiếu thả bước vào Đại Nội.

Nắng chỉ còn le hoe, hiu hắt trên chóp kỳ Đài nơi Ngọ Môn. Con đường trải đá dẫn vào lầu Nam Phương hun hút lạnh lùng dưới những tàng cây cổ thụ rậm rì. Gió luồn lách xào xạc cành lá. Gió lách mình qua mái ngói của ngôi lầu hoang phế rít khẽ trên những bức tường thành ẩm mốc, loang lổ. Xa xa nơi khúc rẽ cuối đường, hơi sương lờ mờ tỏa xuống quấn quít đầu cây ngọn cỏ, lan dần trên mặt đường như muốn nuốt chững vạn vật theo ánh mặt trời chết lịm ngoài thành. Thỉnh thoảng, vài tiếng chim lạ kêu vang thảng thốt rồi tắt nghẽn vào bóng đêm vừa xuống.

Lầu Nam Phương nơi làm nghẽn mạch máu của những người yếu tim. Nơi mà ban ngày ít có người nào dám đến gần. Hãy nhìn căn lầu mênh mông, hoang vắng cũ kỹ cùng những cánh cửa sổ gẫy lìa, ẩn hiện trong đám Tùng Bách trăm năm già cỗi. Và, hãy nhìn hình dáng điêu tàn mốc meo, xám xịt của ngôi nhà đã bao năm không người ở, mới cảm thấy cái ma quái rợn người phảng phất trong không khí ở quanh đây.

Đến cuối khúc quẹo, tụi tôi rẽ trái vào con đường nhỏ dẫn vào lầu Nam Phương. Tôi không khỏi bồi hồi khi vạch lá lần từng bước trên con đường ngày xưa đã bao lần hứng gót sen của hoàng hậu Nam Phương. Vậy mà giờ đây hoang phế đầy cỏ dại.
Cả bọn mò đến cánh cổng sắt rỉ sét trước lầu Nam Phương thì đã thấm mệt. Hiếu thì thào:

-Tắt đèn pin ngồi nghỉ mệt chút đi.
Nhìn bức tường và cánh cửa sắt cao nghệu, Điểu lắc đầu ngao ngán:

-Kiểu ni chắc tiêu hết mấy cái bánh Khoái trong bụng tao rồi.
Đêm đen kịt đáng sợ theo những tiếng động và âm thanh rên rỉ của côn trùng vẳng lại, cộng thêm ánh chớp lập loè từ những con đôm đốm trong bóng đêm làm tụi tôi chột dạ. Chùi bàn tay ướt nhẹp mồ hôi vào vạt áo, tôi hỏi nhỏ:

-Sao? Leo vô được chưa tụi bay?
-Đứa mô vô trước? Điểu hỏi.
Hiếu chụp cánh cổng sắt lắc thử.
-Chắc lắm! Để tao leo vô trước cho.

Khi đã vào hẵn bên trong, Hiếu rọi đèn bấm cho tôi và Điểu leo vào. Tụi tôi chạy vội qua khoảng sân rộng ngập đầy lá rồi dừng lại trên thềm lầu. Hai cánh cửa trước bằng gỗ đã mục nát ngã xiên dưới hiên nhà. Hiếu quét một vòng đèn pin vào bên trong tiền đường: trống rỗng. Bụi bặm và mạng nhện giăng đầy mọi góc. Tôi nói:

-Dưới này dơ quá! Lên lầu coi thử có khá hơn không.
Hiếu ngần ngừ giao đèn pin lại cho tôi, giọng nó hơi run:
-Mi đi trước dẫn đường hỉ.
Tôi cầm cây đèn pin làm bộ cứng:

-Tụi bay theo tao.
Trên lầu cũng trống trơn nhưng được cái sạch sẽ và thoáng khí hơn ở dưới. Tôi gọi Điểu:

-Lấy đèn cầy đốt lên đi Điểu.
Điểm cắm cây đèn sáp nơi góc phòng, trong lúc tôi và Hiếu kiểm soát mấy cánh cửa sổ. Không còn cánh cửa nào nguyên vẹn. Tất cả đều xiên xẹo sút bản lề. Cánh cửa thông ra phòng phía trước ổ khoá đã sét cứng không mở được. Gió đêm thổi luồn qua bốn khung cửa sổ mở rộng, làm nổi gai theo tiếng dong đưa kẽo kẹt của mấy cánh cửa mục nát.

Tụi tôi trải tấm bạt xuống sàn gần khung cửa có nhánh Tùng vắt ngang bên ngoài. Nhớ lời Nhuỵ kể, tôi đoán con ma đã ngồi trên cành này nhát Nhuỵ. Cho đến bây giờ, thật tình mà nói, tôi vẫn không tin có chuyện ma quỉ hiện hình. Nhưng nói nào ngay, khung cảnh hoang liêu ở đây không khỏi làm tôi hoảng sợ. Tôi dấu bặt Hiếu và Điểu chuyện Nhuỵ gặp ma tại lầu này, để lòng can đảm của tụi nó khỏi bị sút giảm.
Trải xong tấm bạt. Hiếu thắc mắc:

-Sao không ngủ giữa phòng mà lại nằm gần cửa sổ?
Tôi giải thích:

-Nằm ở đây mình có thể quan sát được ba cửa sổ còn lại. Hơn nữa-tôi đùa-nếu ma nó đu vào cửa sổ trên đầu mình, thì mình còn có cơ hội đá ngược cho nó văng ra ngoài chớ.

Tiếng hú nhọn buốt vang lên vào khoảng gần nửa đêm làm tụi tôi giật điếng người. Ban đầu, tiếng hú nghe thật xa như ở bên kia hồ Tịnh Tâm. Càng về sau, tiếng hú thật gần như thể đã lọt vào khuôn viên lầu Nam Phương. Tụi tôi muốn đứng tim vì sợ hãi. Sáu con mắt trợn trừng trong bóng đêm. Ánh nến bập bùng nơi góc phòng tắt phụt vì cơn gió đập mạnh bên ngoài.

Giọng cười the thé dội lên từ dưới lầu như cục nước đá chà xát vào làn da đang nổi gai của tụi tôi. Rồi, tiếng chân kéo lê lần theo cầu thang lên lầu. Giọng cười bổng đổi thành tiếng khóc nỉ non rên rỉ.

Hừ...hừ...trả...nhà...lại...hừ...hừ...nhà...của...tau...răng bây dám...vào...hừ...hừ...
Tụi tôi nằm cứng đơ như xác chết. Hùng khí ban đầu bốc hơi theo những giọt mồ hôi rịn ướt áo. Cây đèn pin mò tìm run rẩy, sẩy tay lăn mất ngõ nào.

Tiếng chân xoàn xoạt kéo lê gần hết cầu thang thì ngưng lại. Tôi nghe thật rõ hơi thở phì phò của con ma đâu đó nơi khoảng tối phía cầu thang. Sự sợ hãi tưởng chừng như bóp nghẹt hơi thở tôi. Tôi mườn tượng ra một khuôn mặt xanh lè, cái lưỡi dài thòn đỏ choét sắp liếm vào mặt mình. Rồi đôi bàn tay với những móng tay nhọn hoắc cắm sâu vào cổ. Làm sao đây?

Mười phút trôi qua trong im lặng...tôi lay nhẹ cánh tay Điểu, nhưng lại có cảm giác như đang chạm vào một cây nước...đá lạnh ngắt.
-Điểu...Điểu.
Điểu chận tay tôi xuống, thều thào:

-Im...nằm im.
Con ma bay ra cây Tùng ngoài cửa sổ lúc nào chẳng biết. Khi tiếng hú của nó xoáy vào phòng thì bóng nó đã lù lù hiện lên trên khung cửa sổ. Hồn bất phụ thể, tôi hét một tiếng lớn rồi đá ngược hai cẳng vào bóng con ma. Đây có lẽ là cú đá mạnh và tuyệt vời nhất kể từ khi tôi mang đai đen nhất đẳng Thái Cực Đạo.
Bịch...hự...
Chân tôi chạm vào một khối thịt mềm nhũn. Con ma bật ra ngoài cửa sổ rơi xuống đất theo tiếng gẫy răn rắc của những cành Tùng.
Một phút im lặng.

Bỗng, tiếng hú lại cất lên bên dưới. Lần này, giọng hú yếu hẳn pha lẫn tiếng rên rĩ đau đớn rồi xa dần...xa dần. Cuối cùng, tiếng hú tắt nghẽn bên kia hồ Tịnh Tâm.
Sau đêm đó, tụi tôi cải nhau chí choé. Điểu và Hiếu cứ khăng khăng là ma thiệt. Không đồng ý với tụi nó. Tôi hỏi:

-Nếu ma thiệt...làm sao tao đá nó rớt xuống đất chớ?
Hiếu cãi:

-Mi đá hắn hồi mô? Răng tao không thấy?
-Mày sợ quá xỉu ngay đơ còn thấy gì nữa.
Điểu xen vào:

-Rứa tao răng? Tao đâu có xỉu. Răng tao cũng đâu thấy mi đá hắn?
Tức quá, tôi chỉ tay vào túi xách treo trên tường:
-Vậy thì thằng nào giật túi xách của tao trùm vô đầu?
Điểu quê độ làm thinh. Tôi đá mạnh cái ghế bỏ ra ngoài. Bực bội, tôi thả bộ ra quán cà phê ông Đường. Nhuỵ đang ngồi uống cà phê bên cái bàn ngoài sân. Thấy tôi, nó mừng rỡ gọi:

-Anh Ngọc.
Gặp thần Tài, tôi mừng húm băng vội qua đường.
-hồi nãy vô rủ anh đi uống cà phê nhưng thấy anh đang nói chuyện với bạn, nên tui ra đây ngồi chờ. Cà phê hỉ?
Tôi hỏi:

-Nhuỵ đi đâu mấy bửa nay hong thấy?
Nhụy ngập ngừng:

-Tui tới nhà bà cô chơi.
Tôi kéo ghế ngồi xuống, vô tình đụng vào chân Nhuỵ. Nó nhăn nhó ôm chân. Tôi thấy bàn chân trái của nó xưng vù băng quấn lên tận mắt cá. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Ủa...chân Nhuỵ sao vậy?
Nhụy làm thinh cầm ly cà phê uống từng ngụm nhỏ. Xong, nó dằn mạnh ly cà phê xuống bàn, buột miệng chửi thề:

-Đù mạ hắn...tức chết đi được.
-Chuyện gì vậy Nhuỵ?
Nhụy dòm quanh quất rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, nói: 

-Chỗ anh em, tui nói cái ni anh đừng nói lại cho ai nghe hỉ.
Tôi cười cười vỗ vai nó:

-Đừng lo. Anh không nói cho ai nghe đâu.
Nhuỵ cúi xuống tay xoay xoay ly cà phê trên bàn. Nó hỏi tôi với giọng trầm trầm vừa đủ nghe, như thể sợ ai đó đang lắng nghe lời của nó:

-Anh biết hồ Tịnh Tâm? Anh biết những vụ mất xe trong Đại Nội? Anh biết chuyện con ma lầu Nam Phương?
Nhuỵ hỏi một hồi rồi nhìn tôi chờ đợi. Tôi gật đầu. Nhuỵ từ tốn nói tiếp:

-Tôi chính là người ăn cắp những chiếc xe đạp trong trường Mỹ Thuật và Âm nhạc. Anh tin không?
Tôi giật mình:

-Té ra là Nhuỵ...rồi Nhuỵ dấu ở đâu? Làm cách nào Nhuỵ đem xe ra được?
Quên cả đau, Nhuỵ nở nụ cười láu cá:

-Rứa mới hay. Anh biết tui dấu chỗ mô không?
Thấy tôi đực mặt ra, nó khoái chí tợp một ngụm cà phê rồi nói tiếp:

-Hồ Tịnh Tâm. Vớt được chiếc mô tui quăng xuống hồ. Tối đến chỉ việc kéo lên đạp qua bên kia hồ, luồn lỗ chó dưới chân tường ra ngoài thành là xong.
Tôi khen:

-Nhuỵ hay thiệt! Hèn chi cảnh sát gát cổng thành ngày đêm mà không bắt được thủ phạm.
-Chưa hết đâu anh! Muốn chắc ăn khỏi bị lộ tẩy. Hằng đêm, tui giả làm ma gào, qủi khóc ở lầu Nam Phương cạnh hồ để không ai dám léo hắn tới.
Tôi lại giật mình lần nữa. Chẳng lẽ con ma lãnh trọn cú đá thực mạng của tôi lại là Nhuỵ, thằng em ơn nghĩa này sao?
Tay xoa ngực, mắt nhìn xuống cái chân đau, Nhuỵ nghiến răng:

-Tối hôm kia có mấy thằng ôn dịch ở mô không biết, tự dưng vào trong nớ ngủ lại.
Tôi làm bộ hỏi:

-Vào trong nào?
Nhụy tức tối:

-Lầu Nam Phương chứ mô nữa! Gần nửa khuya tính vào hồ kéo xe đạp lên thì thấy có ánh nến trên lầu. Lại nghe tiếng nói chuyện rù rì của hai ba người. Loáng thoáng có giọng thật quen, nhưng nhỏ quá tui nhận không ra. Tui đoán mấy tay ni muốn rình coi ma, nên lẳng lặng qua bên kia hồ ngồi chờ, đến nửa đêm sẽ trở lại hù một mẻ để mấy thằng ôn dịch chạy té đái chơi cho kinh hồn. Hết dám vào đây phá đám.
Với gương mặt căng thẳng, tôi giả vờ hồi hộp hỏi:

-Rồi...Nhuỵ có trở lại hong?
-Răng không! Tui hú, tui rên, tui làm đủ trò. Tui mò lên lầu. Nhưng, tối quá không dám bước gần chỗ tụi hắn nằm ngủ cạnh cửa sổ. Tui sợ tụi hắn thủ gậy bổ cho một cái là rồi đời. Mà...kể ra tụi hắn cũng gan thiệt, tui dọa rứa mà chẳng có đứa mô chạy hết. Chợt nhớ đến nhánh Tùng gần cửa sổ nơi tụi hắn nằm, tui đi xuống vòng ra cây Tùng, leo lên đu theo cành bám vào cửa sổ. Vừa mới mở miệng hú chưa dứt thì...mụ nội ơi...nghe một cái...bịch vô ngực. Tui bật ngửa rớt xuống đất...xỉu một chập mới tỉnh dậy-Nhuỵ ngưng lại mồi điếu thuốc, rít một hơi lấy trớn rồi tiếp-lúc tỉnh dậy, mình mẩy rêm hết trơn. Chân trái bị trật đau thấu trời. Vậy mà tui cũng phải ráng sức hú thêm vài tiếng cho mấy thằng nớ chùn chân đừng đuổi theo. Rồi...tui ráng lết về nhà bà cô bên kia hồ.
Tôi nhìn Chân Nhuỵ ái ngại:

-Chắc còn đau lắm hả?
Nhuỵ trợn mắt tức tối:

-Răng không! Nó nghiến răng-Nói thiệt, tui mà biết được thằng mô đạp tui tối nớ. Tui...tui...bằm nó ra cho...vịt ăn mới hả cơn giận. Đồ...ôn hoàng dịch vật.

Tôi ngoảnh mặt sang nơi khác, cố giấu nụ cười "ôn hoàng dịch vật" của mình, trong lúc Nhuỵ nhăn nhó đứng lên, bước thấp bước cao vào quán trả tiền. Vừa đi, miệng nó vừa lẩm bẩm như thể đang nguyền rủa ai đó... Hết.

Hồ Xuân Ngọc.
(09.22.1995)


Wednesday, October 28, 2026

BÉ CẨM - CHUYỆN MA - TRUYỆN NGẮN - Tác giả HỒ XUÂN NGỌC (Chuyện thật của tác giả)


Bé CẨM

Tuần lễ ma quỷ Halloween, xin đăng lại chuyện ma để các bạn cùng mất ngủ đêm nay.


CHUYỆN MA 



Bé CẨM


   Thường thì cứ mỗi tháng một đôi lần, tôi thức trọn đêm không ngủ được. Mỗi lần mất ngủ đầu óc lại miên man quay về kỷ niệm xa xưa khi còn trẻ. Đêm qua, cứ trằn trọc mãi. Bỗng chợt nhớ lại thật rõ, một câu chuyện rất huyền hoặc, lạ kỳ, không thể lý giải, xảy ra đã rất lâu ở Hội An, trong những ngày tôi còn long bong ở đó mà tôi đã trải nghiệm trong thời gian lưu lại thành phố này. Sáng, rời khỏi giường, tôi quyết định ghi lại câu chuyện ấy. Một phần, để tưởng niệm về cô bé tên Xê bên Cẩm Nam. Một phần, muốn mang câu chuyện đến với bạn hữu Hội An, để nhớ thêm về một Hội An thân thương có nhiều kỳ tích và để giải trí trong bối cảnh đáng buồn vì Corona virus. Cảnh báo: vị nào độc thân sống một mình, không nên đọc vào ban đêm (đùa thôi, không đến nỗi đáng sợ như vậy). Nào! chúng ta hãy bắt đầu vào chuyện, bạn nhé!

   Hồi ở Saigon quậy quá, học hành lem nhem, nên má tôi gởi ra ở với bà chị có chồng làm tiểu đoàn trưởng đóng quân ở Hội An để đi học. Năm ấy, tôi học lớp đệ nhất trường Trần Quý Cáp Hội An. Thường sau giờ học, cơm nước xong, tôi thả bộ xuống phố long rong cùng mấy thằng bạn trời đánh mãi đến khuya mới về. Nói là khuya, nhưng khoảng 10 giờ đêm lả ai về nhà nấy ôn bài vở, vì sắp tới giờ giới nghiêm. Lúc ấy, tôi học ban B nên chỉ lo về toán, lý hoá, bài vở không cần học thuộc lòng nhiều như các bạn ban A và C. Vả lại, tôi có tật hơi...làm biếng và lè phè, nên cứ đợi đến giờ chót mới cắm đầu, cắm cổ học thi. Thế nhưng, về việc dạo phố thì không hề bê trễ , nhưng không hẳn lúc nào cũng họp đủ nhóm bạn để đi. Cũng có hôm, chỉ mình tôi lang thang phố Hội một mình, vì chẳng có đứa bạn nào rảnh. Hồi ấy, thời kỳ chiến tranh, phố Hội về đêm không nhộn nhịp như bây giờ. Ngày thường, sau 8 giờ tối thì nguyên con đường Nguyễn Thái Học tối thui, chỉ sót lại vài căn nhà gần ngã tư Lê Lợi là còn mở cửa, khiến con đường tối vắng càng thêm buồn tẻ. Riêng đường Cường Để, suốt từ chợ, trước chuà ông Bổn, đến cuối đường xuyên chùa Cầu qua Cẩm Phô, thì sinh hoạt tấp nập hơn, nhờ ánh đèn từ những cửa hàng và nhà dân. Lộ trình thường nhật hàng đêm của tôi và mấy đứa bạn là gặp nhau trước chùa ông Bổn. Xong, thả bộ tà tà dọc Cường Để đến chùa Cầu, rồi hướng theo bờ sông Bạch Đằng đến chợ Cá. Từ chợ Cá, bọc ngược lên Nguyễn Thái Học, rẽ phải trên đường Lê Lợi trực chỉ ngã tư tiểu khu rồi...tan hàng. Cũng có khi tan hàng ở ngã tư nhà Đèn hay trước bịnh viện Hội An. Nói thì ngắn gọn, nhưng cũng mất nhiều giờ tàng tàng thả bộ. Đôi khi có tiền, thì bọn tôi ghé vào quán cà phê nhâm nhi nghe nhạc. Hoặc, có lúc, chỉ một mình, tôi lại ghé vào tiệm thuốc bắc Hoà Xương Đường, làm bộ mua ít cam thảo đề có dịp...cua cô gái xinh đẹp con ông chủ tiệm. Nói chung, đó là những ngày tất vui, với thú tản bộ quanh phố cổ đầy thú vị, đơn giản, mộc mạc thời bấy giờ, nhưng đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong ký ức thời còn trẻ của tôi ở Hội An.

   Tôi nhớ hôm ấy trời chập choạng tối, chẳng có tên bạn nào chịu ra tản bộ cùng. Thay vì đi theo lộ trình dạo phố định sẵn như mọi khi, tôi đổi ý đi về Cẩm Châu, băng qua chợ Cá dọc sông Thu Bồn. Thời đó, Cẩm Châu dân cư ít ỏi, qua chợ Cá không bao xa thì nhà cửa thưa thớt dần, nhường chỗ cho vườn cây và những bụi tre xanh um. Khi tôi thả bộ đến gần cuối con xóm nhỏ, không xa lắm, từ chợ Cá, thì thấy thấp thoáng trước mặt dáng của một cô gái độ 15, 16, mặc áo dài trắng, tóc thắt bím cột hai sợi nơ đỏ ngồi trên phiến đá cạnh bờ sông. Ngạc nhiên, vì không hiểu tại sao giờ này, trời nhá nhem tối, lại còn cô bé ngồi một mình bên bến sông, tôi bước đến gần nhìn cho kỹ. Nghe bước chân, cô gái quay lại nhìn tôi rồi nhoẻn miệng cười, lộ hai chiếc răng khểnh trên gương mặt bầu bĩnh. Mái tóc không dài lắm của cô bé được bím gọn, thả dài hai bên tai với hai chiếc nơ đỏ thắt cuối bím tóc, làm tăng thêm nét dễ thương trên  khuôn mặt đáng yêu.

   - Tối rồi...sao em còn ngồi đây? Tôi hỏi cô bé.

   - Em chờ tối mịt mới về- Cô bé trả lời với giọng vui vẻ.

   Tò mò, tôi hỏi tiếp và chỉ tay về ngôi nhà sau lưng gần đó, bên kia đường.

   - Nhà em đó hả?

   Cô bé che miệng cười khúc khích, chỉ về hướng bờ sông đối diện, trả lời:

   - Mô có! Nhà em bên tê, bên Cẩm Nam đó anh.

   Tôi ngạc nhiên, hỏi:

   - vậy...tối rồi đâu còn đò đưa em về?

    Thời điểm đó, Hội An qua Cẩm Nam phải đi bằng đò, không có cầu. Chiếc cầu bê tông do Công Binh xây nối bờ Cẩm Nam và Hội An, cạnh chợ Cá, còn dang dở chưa hoàn tất, chỉ trơ lên mấy trụ cầu chờ lắp nhịp.

   - Dạ, xí nữa em bơi qua sông- cô bé cười cười nhìn tôi.

   Nghĩ cô bé nói giỡn chọc mình. Tôi cười chọc lại:

   - Coi chừng ma da kéo chân đó em!

   Nghe tôi nói, nụ cười chợt tắt theo gương mặt biến sắc của cô bé. Đột nhiên, một luồng gió lạnh thổi lên từ mặt sông làm tôi khẽ rùng mình. Cô bé quay mặt nhìn xuống dòng sông đêm giọng khàn đục thoang thoảng theo cơn gió:

   - Ma sợ em thì có...mà...nghe giọng anh nói hình như không phải người Hội An mình?

   - Ừ, anh người trong Nam ra đây học. Hết niên khoá này sẽ không ở đây nữa. Hồi nãy anh dọa đùa em về ma da...anh xin lỗi nhen!

   - Dạ, không có chi mô anh. Nhưng câu nói của anh, làm em nhớ về một người trong dòng sông ni...mà thôi, anh người ở xa tới, có kể, chắc không biết chị nớ mô- cô bé hồn nhiên tươi cười trở lại, âm thanh có mòi thân thiện- nì...anh tên chi hỉ?

   Tôi nói tên mình cho cô bé nghe.

   - A...anh “Ngạc.” Em tên Cẩm.

   Nghe cô bé đổi tên “Ngọc” của tôi thành “Ngạc” theo cách phát âm địa phương làm tôi suýt bật cười, dù đã quá quen thuộc với lối phát âm này. Bé Cẩm chỉ vào mảng xi măng sức mẻ cạnh chỗ nó ngồi, nói với giọng rất tự nhiên, như thể chúng tôi đã quen biết nhau từ lâu:

   - Anh ngồi nói chuyện cho vui, xí về.

   Dòng sông đêm Thu Bồn đen thẫm. Thấp thoáng bên kia sông vài ánh đèn dầu leo lét chập chờn. Ngọn gió đêm xào xạc trên những tàng cây, như lời thì thầm của gió cho những chiếc lá đang khép lại trong màn đêm vừa xuống. Tôi khẽ rùng mình và nghe lành lạnh trong người khi ngồi gần cô bé. Trong một thoáng, tôi thấy mặt bé Cẩm bỗng trắng bệch nhợt nhạt trong bóng tối, lúc làn gió lạnh bất chợt thổi ngược từ mé sông phả vào. 

   - Chút nữa ai đón em về? Tôi lại hỏi bé Cẩm.

   - Ha...ha...em đã nói sẽ lội qua sông về nhà mà anh không tin hả? Nhà em ở cạnh sông. Ngay từ nhỏ em đã biết bơi rồi. Chừ thì lội giỏi lắm. 

   - Ba má em làm gì?

   - Cha mẹ em làm nghề cá. Nhiều khi đi biển hai ba ngày mới về. Cha mẹ cho em tiền đò qua sông đi học mỗi ngày. Nhưng thấy cha mẹ khổ cực, em chỉ đi chuyến đò buổi sáng để giữ quần áo khỏi ướt khi vào học. Còn chiều thì em lội về tiết kiệm tiền để  mua sách học. khỏi làm cực lòng cha mẹ.

   Nghe bé Cẩm nói, tôi thấy xót xa trong lòng. Một đứa bé mới lớn như nó đã hứng chịu nhọc nhằn. Trông gương mặt hồn nhiên, ngây thơ của nó mà thấy tội. Không để tôi hỏi thêm, bé Cẩm tiếp:

   - Chiều học về, em ghé nhà bạn bên Cẩm Phô học bài. Học xong, em gửi sách vở lại nhà nó để mai nó đem vào lớp dùm em.

   - Em học trường nào?

   - Trường nữ anh nợ! Anh biết trường nữ chớ? Trường nằm đối diện dinh tỉnh trưởng nớ!

   Tôi gật đầu:

   - Biết. Anh cũng ở gần đó. Mà nè...sao em không lội về sớm mà phải đợi đến trời tối? Bộ không sợ sao?

   Bé Cẩm bẻn lẻn cười:

   - Dị lắm anh! Trời sáng lội sông quần áo dính vào người dị lắm. Khi trước, có mấy bận em lội qua sông khi trời còn chạng vạng, gặp mấy ông ngồi câu cá trên ghe cứ nhìn em chằm chằm, rồi quay ghe thiệt lẹ chèo miết vô bờ. Từ đó, em phải đợi tối trời mới dám bơi qua sông. Nói anh nghe, đừng kể lại cho ai biết hỉ!

   - Làm sao em lội qua sông với chiếc áo dài lướt thướt đang mặc?

   Bé Cẩm hồn nhiên đứng bật dậy ôm bụng cười, thanh âm phát ra từ tiếng cười nghe lành lạnh rất lạ. Xong, nó kéo hai vạt áo dài quấn quanh bụng cột chéo lại, nói:

   - Cột như ri mới lội được anh Ngạc.

   Nói xong, nó bỗng nhẩy ùm xuống nước, xuống dòng sông đêm mang màu đen kịt đáng sợ. Tôi hoảng hốt gọi to tên nó, nhưng chỉ nghe tiếng cười khúc khích vẳng lại. Rồi, tiếng cười bỗng biến thành tiếng ùng ục, khằn khặc rợn người, và tắt lịm giữa khúc sông đêm vắng lặng. Tôi rùng mình như có ai đang chà cục nước đá vào da. Trong hoang mang, tôi chạy băng qua đường, hướng về nơi có người đàn bà đứng tuổi đang cầm chổi quét rác trước hiên nhà. Tôi lắp bắp nói:

   - Dì...dì...dì kêu hàng xóm giúp dùm. Có cô gái vừa nhảy xuống sông.

   Người đàn bà chau mày nhìn tôi:

   - Cô gái mô?

   - Cô gái thắt bím cột nơ đỏ, mặc áo dài trắng, ngồi ở bờ sông bên kia đường, nói chuyện với con lúc chạnh vạng. 

   Gương mặt người đàn bà chợt biến sắc. Run giọng hỏi:

   - Cậu biết hắn tên chi không?

   Tôi nói:

   - Nó nói nó tên Cẩm. Nhà bên Cẩm Nam.

   Người đàn bà lại run giọng hỏi tiếp:

   - Phải nó cười có răng khểnh và tuổi độ 15, 16?

   Tôi gật đầu:

   - Dạ!

   Người đàn bà lật đật nắm tay tôi, nói:

   - Con đứng đây đợi dì. Mô Phật...nam mô a di đà Phật...

   Bà quày quả bước vội vào nhà. Vừa đi vừa lẩm bẩm điều gì đó trong miệng. Ít phút sau, bà trở ra với bó nhang lớn ngun ngút khói cùng khuôn mặt khẩn trương. Chỉ tay về phía bờ sông nơi tôi ngồi với bé Cẩm, bà nói:

   - Con đi với dì qua bên nớ.

   Đến bờ sông, bà cắm bó nhang xuống đất cạnh hòn đá, nơi Cẩm ngồi, chấp tay xá xá vài cái, rồi nói thì thẩm điều gì trong miệng. Sau đó, kéo tay tôi đi ngược về nhà, dẫn tôi vào và ra dấu bảo tôi ngồi xuống ghế cạnh chiếc bàn gỗ cũ kỹ nơi phòng khách. Sau khi hỏi sơ qua thân thế tôi, bà nói:

   - Con cứ kêu dì là dì Năm. Con bé nớ tên là Xê, không phải Cẩm. Nó mất cách nay đã hơn hai năm, giữa khúc sông chỗ nớ. Nó là cháu kêu dì bằng cô, nhà bên Cẩm Nam. Cha hắn, thằng Đệ, là em trai của dì. Hồi nớ, mỗi ngày tới trường con Xê phải đi đò qua sông. Thấy tội quá, cô bắt nó ở nhà cô đi học cho tiện, nhưng nó nhất định không chịu. Một hôm, nó ở lại nhà bạn bên Cẩm Phô ôn bài thi đến tối mịt mới về. Ban đêm, chiếc đò nhỏ không gắn đèn bị ghe cá đụng giữa sông. Con bé rơi xuống nước mất tích. Hai ngày sau mới tìm thấy xác gần cửa Đại- dì Năm ngừng lại lấy tay chùi nước mắt, sụt sùi kể tiếp- sau đó, nhiều người câu cá lúc trời sâm sẩm tối ở khúc sông nớ, thường thấy nó mặc áo dài trắng bơi qua sông. Bởi vậy, khi nghe cháu nói, dì biết ngay là con bé Xê.

   Nghe dì Năm kể xong câu chuyện, tôi nổi gai ốc. Trên đời có lắm chuyện huyền bí khó thể giải thích. Tôi đi về mà lòng thật buồn. Nhớ lại câu chuyện dì Năm kể về cái chết tức tưởi của bé Xê, mà nước mắt cứ rưng rưng muốn khóc. Không cần biết em là Cẩm hay Xê, mong sao em không trở lại cõi trần này với cuộc đời bất hạnh đã qua. 

   Những ngày sau đó, có đôi lần, thỉnh thoảng vào buổi chiều, tôi ghé lại bờ sông, nơi, tôi và bé Cẩm ngồi. Hòn đá và miếng xi măng sứt mẻ vẫn còn đó, không gì thay đổi. Chỉ khác là có nhiều chân nhang cắm rải rác xung quanh. Tôi đứng tần ngần nhìn ra khúc sông Thu Bồn vẫn còn lấp lánh chút ánh nắng sót lại của chiều tà, lòng chỉ mong sao dòng sông hiền hoà này sẽ chẳng bao giờ phải cưu mang thêm một linh hồn, cùng thân xác bất hạnh nào nữa của con người. 

   Bẳng đi thời gian dài, vì bận ôn bài cho kỳ thi Tú Tài 2, tôi không còn ghé lại bến sông trước nhà dì Năm nữa. Bấy giờ tình hình chiến sự leo thang, Hội An bị pháo kích thường xuyên. Lệnh giới nghiêm vẫn được áp dụng trên toàn thành phố, từ 11 giờ đêm đến 4 giờ sáng. Khi đêm về, ai cũng hoang mang lo sợ. Vì vậy, nhóm bạn chúng tôi rất ít tụ tập dạo phố đêm như lúc trước. Thế rồi học mãi, ở mãi trong nhà cũng tù túng, tôi quyết định đi ra phố cho khuây khoả tinh thần, sau những ngày đêm miệt mài với công thức cùng con số. Tôi còn nhớ, hôm ấy thứ bảy, phố xá về đêm cũng nhộn nhịp. Lâu ngày không ra phố thấy lòng rất vui. Tôi đi suốt những con đường thân quen của Hội An, suốt nhiều con hẻm nhỏ với cả cõi lòng hân hoan của mình và cứ ao ước được đi hoài như vậy trong niềm vui ấy, quên cả thời gian. Cho đến khi đi về lại phố từ Cẩm Phô đến ngã tư Lê Lợi và Cường Để, thì chợt giật mình vì phố xá đã đóng cửa, đường vắng vẻ không còn bóng người. Nhìn đồng hồ còn 10 phút đến giờ giới nghiêm. Từ ngã tư này về đến nhà phải mất 15 phút đi bộ, chỉ có nước chạy cho nhanh mới kịp. Tôi cắm đầu chạy thật lẹ. Thanh niên còn sung sức, nên chưa đầy 5 phút tôi đã chạy đến trước ty Thông Tin trên đường Hoàng Diệu. Thấm mệt, tôi giảm tốc độ chạy tà tà dưỡng sức, vì cũng sắp đến nhà, chỉ cần quẹo phải trên đường Trần Hưng Đạo trước mặt, đi qúa trường Trần Quý Cáp một quãng ngắn là đến nơi. Lúc bấy giờ, đường Hoàng Diệu vắng vẻ không có người đi, chỉ còn một cô gái mặc áo dài trắng, vừa quẹo xe đạp từ Trần Hưng Đạo xuống Hoàng Diệu ngược chiều với tôi. Không thèm chú ý đến cô gái đang hối hả đạp xe về hướng chợ Cá, tôi cứ thong dong cất bước.

   - Anh Ngạc...-cô gái lính quýnh ngừng xe gọi to tên tôi với giọng mừng rỡ- em nè...Cẩm nè!

   Tôi giật mình dừng lại nhìn nó. Đúng là con bé Cẩm bên bờ dông dạo nọ. Một luồng hơi lạnh tỏa khắp người khiến tay chân tôi bủn rủn, muốn chạy mà không nhấc nỗi chân. Bé Cẩm nhìn bộ dạng thất thần của tôi, nhăn răng cười khúc khích, nói:

   - Chi mà sợ rứa? Bộ không nhận ra em sao?

   Không biết có phải vì đèn đường không đủ sáng, hay tại tôi hoang mang bấn loạn, mà khi nó cười, tôi thấy, hình như...hai chiếc răng khểnh của nó nhọn hoắc như hai cái răng nanh. Tôi lắp bắp:

   - À...à...bé Cẩm...

   Con bé lại cười, khuôn mặt tái nhợt dứơi ánh đèn đường cùng hai chiếc răng nanh bên khoé miệng:

   - Chu choa! Gặp anh em mừng quá! Nhưng gần đến giờ giới nghiêm rồi, em phải về cho kịp. Có dịp anh em mình nói chuyện nhiều hỉ! Chừ em về... à... suýt nữa quên. Cha mẹ em dọn về bên ni rồi, không còn ở Cẩm Nam mô. Hôm mô rảnh ghé nhà em chơi. Nhà mới xây nên chưa có gắn bản số. Từ nhà Đèn, anh cứ theo con đường nớ, đi miết xuống Cẩm Châu, tìm số nhà 181. Xong, anh nhìn qua bên kia đường là nhà em đó. Thôi, em về hỉ!

   Nói xong, nó hấp tấp đạp xe đi. Trước khi đi, nó còn quay đầu nhìn tôi, tươi cười khoe hai cái răng nanh, nói lớn:

   - Nhớ ghé nhà em hỉ! Đối diện với nhà số 181 nớ!

   Hú hồn, tôi co giò chạy thục mạng về nhà mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Trong đời tôi, có lẽ, đó là lần đầu tiên chạy nhanh đến thế.

   Mấy hôm sau, tôi cứ suy nghĩ, phân tích về lai lịch của bé Cẩm, về câu chuyện của dì Năm liên quan đến bé Xê. Cả hai đứa: Xê và Cẩm, có quá nhiều sự kiện trùng hợp, ăn khớp với nhau, mà dì Năm là nhân chứng khả tín trong cuộc. Dẫu biết rằng trong đời thường, có rất nhiều điều kỳ bí không thể lý giải được. Nhưng, trong trường hợp này: chẳng lẽ nào, Cẩm lại là hiện thân của bé Xê? Chẳng lẽ nào, tôi đã gặp Xê ở bến sông đêm? Và, cũng chẳng lẽ nào, tôi lại gặp Xê ở đêm về muộn bữa đó trên đường Hoàng Diệu? 

   Nhớ lại đêm gặp bé Cẩm, nó có cho tôi địa chỉ nhà ở Cẩm Châu, tôi quyết định xuống đó tìm hiểu sự thật. Một hôm giữa trưa, từ ngã tư nhà Đèn, tôi thả bộ về Cẩm Châu theo lời hướng dẫn của bé Cẩm. Đi theo con đường đất đã khá xa, nhà cửa thưa thớt dẩn, vẫn chưa đến số nhà Cẩm cho, dọc bên đường toàn vườn cây và những bụi tre xanh rậm rạp. Chột dạ, định bỏ về, thì thấy trước mặt có căn nhà nằm cheo leo bên lộ. Đến gần, thấy đúng số nhà 181, nhưng nhìn phía bên kia đường đối diện, theo lời Cẩm nói, thì chẳng có ngôi nhà nào mới xây cả, mà chỉ là khu vườn cỏ dại um tùm. Thấy tôi đứng tần ngần nhìn quanh quất, một ông già ốm nhom, từ trong căn nhà bước ra hỏi:

   - Chú kiếm chi?

   Tôi trả lời:

   - Dạ, con tìm nhà bé Cẩm. 

   - Cẩm mô? Con ai? Xóm ni mô có đứa nào tên Cẩm?

   Tôi giải thích, gia đình Cẩm bên Cẩm Nam mới dọn về đây. Và, theo lời Cẩm thì cha mẹ Cẩm mới xây nhà đối diện với căn nhà của ông. Ông già khẽ chau mày suy nghĩ rồi nói:

   - Chắc con Cẩm nớ cho sai địa chỉ rồi. Con thấy đó, mô có nhà nào bên nớ. Miếng đất nớ của thằng Đệ bên Cẩm Nam, mô có nhà cửa chi, chỉ đất trống cỏ mọc thấy sợ. Lâu lâu, hai vợ chồng hắn ghé lại làm sạch cỏ quanh mộ con gái chôn bên nớ, thắp vài nén hương rồi đi biệt. Thiệt tội! Con bé mới 16 tuổi, tội tình chi mà mất sớm như rứa?

   Tôi hồi hộp hỏi:

   - Cô bé đó tên gì, bác? Tại sao mất?

   Ông già thở dài, giọng buồn buồn:

   - Con bé tên Xê. Siêng học và hiền lắm. Nghe thằng Đệ, cha nó, nói lại là ban đêm con Xê đi đò về nhà, đò bị ghe cá đụng, té xuống sông chết. Thiệt tội...

   Nghe ông già kể, tôi thấy rợn cả người, tay chân nổi gai ốc lạnh toát. Ông già lại nói tiếp và chỉ tay về bụi tre lớn bên kia đường trên mảnh đất trống:

   - Sau bụi tre nớ là mộ của con Xê đó!

   Tuy có sợ trong lòng, nhưng sự tình cờ đã dẫn dắt đến đây, tôi cũng muốn viếng mộ bé Xê để tỏ chút lòng trắc ẩn của mình. Và biết đâu chừng, tôi lại có thể tìm thêm vài chi tiết liên quan đến sự liên hệ bí ẩn giữa hai cô bé Cẩm và Xê. Tôi ngẩn ngại hỏi ông già:

   - Con có thể qua đó viếng mộ bé Xê, được hong bác?

   Ông già vui vẻ gật đầu:

   - Được...được, để bác dẫn con đi. Cẩn thận, bên nớ gai góc nhiều lắm.

   Ông già dẫn tôi qua đường, lòn lách giữa mấy bụi gai. Một ngôi mộ đất đầy cỏ dại nằm lẻ loi, cô quạnh sau bụi tre. Bát nhang bằng sành sứt mẻ, còn sót lại vài chân nhang bụi bậm, cạnh tấm bia xi măng quét vôi trắng đã lở lói, bong tróc. Tôi bước lại gần nhìn cho rõ những dòng chữ sơn đỏ khắc trên tấm bia: NGUYỄN THỊ CẨM XÊ, HƯỞNG DƯƠNG 16 TUỔI, SINH NGÀY...MẤT NGÀY...

     

                    o O o 


   Năm 1973, tôi rời Hội An ra Huế học Luật. Trường Luật nằm trên đường Đồng Khánh, gần ga xe lửa. Vì trọ phòng trong Tôn Nhân Phú, nên mỗi ngày tới trường phải đi qua cầu Trường Tiền, qua đại học Văn Khoa, trường Quốc Học, và Đồng Khánh. Thời ấy vui lắm, ngày nào cũng được ngắm mấy cô học sinh Đồng Khánh thướt tha tà áo dài trắng, trên con đường đầy hoa phượng đỏ. Huế lúc nào cũng thơ mộng và đầy ắp những kỷ niệm đẹp trong tôi. Tôi vẫn nhớ mãi những con đường lãng mạn rợp bóng  cây, những cô gái Huế e thẹn dịu dàng với tà áo dài trắng thiết tha (nhớ giọng Huế thỏ thẻ răng mà thương chi lạ). Nhưng, chính những tà áo dài phất phơ thơ mộng của những o Huế ấy, đôi khi, lại khiến tôi nhớ về cô bé Cẩm huyền hoặc ở Hội An, nhớ về lần gặp gỡ cuối cùng đêm về muộn, cùng hai chiếc răng khểnh nhọn hoắc. Tất Cả, giống như một giấc mơ hư ảo không có thật, dù bé Cẩm đã xuất hiện như người thường, đã cười nói với tôi, đã tâm sự ngắn ngủi về một phần đời của nó.

   Dần dà, do bài vở quá nhiều, lại phải học thuộc lòng từng bộ môn phức tạp của các bộ Luật, hình bóng bé Cẩm cũng phai nhạt dần theo thời gian trong tôi. Giữa năm 74, má tôi bắt về lại Sài Gòn học, vì sợ những bất trắc xảy ra cho tôi giữa tình hình chiến sự gia tăng ngoài Quảng Trị. Tháng 4 năm 1975, miền nam thất thủ, đời sống xã hội bị đảo lộn mãnh liệt, nhiều gia đình tan nát vì sự thay đổi quá nhanh. Ai cũng nghĩ đến chuyện vượt biên, tìm đường chạy ra nước ngoài. Tôi có thằng bạn thân gia đình khá giả trên đường Lê Lợi, kế nhà sách Khai Trí. Trước 75, tôi và nó hay ngồi uống cà phê ở Caféteria ngay bồn binh Sài Gòn. Sau 75, đời sống xuống cấp, tụi tôi gặp nhau ở quán cóc ven đường, uống cà phê pha bo bo mưu chuyện vượt biên.

   Đầu năm 77, cũng nhờ nó mà tôi đi thoát trong chuyến tàu đêm ở Bình Tuy. Số nó không may, bị trắc trở trên đường xuống bãi, trễ hẹn, tài công nhổ neo bỏ lại thằng bạn tôi và gia đình nó. Chuyến tàu đi xuyên đêm trong cơn bão cấp 5. Tiếng người khóc vì lạc thân nhân, tiếng rên rỉ, ói mữa vì say sóng, như át cả tiếng giật mạnh của gió và sóng vỗ rầm rập vào mạn thuyền. Đàn bà, trẻ em, người lớn tuổi, được nằm dưới hầm tàu. Tài công cùng 5 thanh niên phụ lưới và tôi ở trên khoang, chèo chống cùng cơn bão. Ngày hôm sau, khi ánh mặt trời lên, chúng tôi đã vượt qua vùng bão, mặt biển bây giờ phẳng lì như mặt hồ. Ở đây, tôi không muốn nói nhiều về chi tiết của chuyến đi, sợ đọc giả sẽ càu nhàu “thằng ni bá láp, viết lằng nhằng” (thật ra, trước khi vô đề, cũng phải có đôi lời giải thích về: thời gian, không gian và sự liên kết đưa đến câu chuyện. Chính vì vậy, mà những “lằng nhằng, lòng vòng” ở trên sẽ mang đến cho đọc giả một khái niệm tổng quát, để mừơng tựơng về không gian và khung cảnh bao quanh trong đoạn cuối câu chuyện của bé Cẩm).

   Tàu chạy đã 3 ngày. Phận sự của chúng tôi (tôi cùng 5 người phụ lưới) hàng ngày là đưa nước và cháo (nấu với cá câu được trong ngày) xuống hầm tàu cho mọi người. Chiếc tàu hơi nhỏ nhưng số người đi không nhiều, chỉ khoảng trên dưới 30. Dưới hầm tàu âm ẩm tối, ai cũng phờ phạc, nhếch nhác, nhìn không ra người mà cũng chẳng giống ma. Ngày thứ tư, vào buổi tối, tôi ra mũi tàu ngồi hóng gió như mọi khi. Đêm ấy trăng sáng lắm, con tàu lướt êm trên mặt biển lấp lánh ánh trăng. Đang ngồi mơ màng nghĩ về tương lai vô định của mình, thì nghe tiếng gọi khàn khàn lẫn theo gió biển sau lưng:

   - Anh Ngạc...!

   Giật mình quay lại. Một cái đầu nhú lên từ hầm tàu, mái tóc bù xù. Cái đầu nhăn răng cười lộ hai chiếc răng khểnh nhòn nhọn, quen quen.

   - Cẩm nè. Bộ không nhận ra em sao?

   Nếu ở đất liền, có lẽ, tôi sẽ chạy, chạy nhanh hơn cả đêm cuối cùng gặp nó trước ty Thông Tin ở Hội An. Người tôi cứng như nước đá, muốn niệm chú trừ tà mà môi cứ lập bập không ra tiếng. Cái đầu nhấc lên cao dần rồi cả thân hình bé Cẩm đã sừng sững đứng trước mặt tôi. Nó quỳ xuống, bàn tay lạnh ngắt của nó bóp chặt tay tôi, giọng khàn khàn hoà theo gió biển nghe xa xôi rờn rợn:

   - Mấy hôm ni anh xuống hầm đưa đồ ăn. Lúc đầu em ngờ ngợ, nhưng sau đó nhận ra anh mà không dám kêu. Ai ngờ, hơn bốn năm rồi, anh em mình gặp lại nhau anh hỉ!

   Tôi run rẩy, lắp bắp:

   - Cẩm...thiệt là Cẩm hả?

   Bé Cẩm cười to, nghiêng mặt đến gần để tôi nhìn cho rõ:

   - Em nì...anh ni chi lạ! Lần mô gặp, anh cũng sợ, làm như em là...ma vậy.

   Khuôn mặt tái nhợt của nó dưới ánh trăng đêm, càng tăng thêm vẻ ma quái. Bé Cẩm lắc lắc hai cánh tay tôi, mặt nó áp gần sát vào mặt tôi, hai chiếc răng nhọn trong cái miệng tươi cười như sắp cắm vào cổ, cùng hơi thở của nó phà vào tai tôi. Thôi rồi, cú này chắc bỏ mạng giữa đại dương, uổng công thằng bạn cho mượn... 5 cây vàng vượt biên, không có cơ hội được hoàn trả. Ủa? Mả sao lọa rứa hỉ? Đã là ma thì làm gì có hơi thở? Tôi giật cánh tay khỏi bàn tay bé Cẩm. Rồi, nhanh như chớp, tôi...nhéo một cái thật mạnh vô má nó.

   - Ái da...-bị đau, bé Cẩm la lên.

   Tôi mừng rỡ cười lớn, nhái giọng Quảng của nó:

   - Khà...khà...nhéo rứa mới chắc ăn, hong thôi cứ nghĩ mi là “moa” miết.

   Bé Cẩm vừa xoa xoa má, vừa đánh vào vai tôi, nói:

   - Anh Ngạc ác chi loạ! Nhéo chi mà nhéo đau dữ rứa trời!

   Đêm đó, dưới ánh trăng bàng bạc, tôi và bé Cẩm ngồi trên khoang tàu nhắc chuyện ngày xưa. Mới đó mà đã hơn bốn năm rồi, bé Cẩm bây giờ đã là một thiếu nữ xinh đẹp, không còn là con bé nhí nhảnh lội sông năm nào. Nhớ đến buổi tối lần đầu tiên gặp nó ở bến sông, tôi hỏi:

   - Em còn nhớ đêm em lội sông về nhà?

   Bé Cẩm gật đầu. Tôi hỏi tiếp:

   - Sao ban đầu anh nghe tiếng em cười rất vui, mà sau đó lại đổi thành tiếng ùng ục nghe ghê quá?

   Bé Cẩm cười, vẫn tiếng cười trong trẻo ngày xưa:

   - Tối nớ, em lội ra một chút, quay đầu lại nhìn, thấy anh quýnh quáng chạy tới, chạy lui, quơ tay, quơ chưn kêu tên em, làm thất cười nên bị sặc nước. Bởi vậy nó mới phát ra tiếng ùng ục đó.

   - Vậy còn số nhà em cho ở Cẩm Châu? Anh xuống tìm nhà em, nhưng chỉ thấy ngôi mộ của người tên Xê.

   Giọng bé Cẩm chợt chùng xuống, buồn buồn:

   - Đêm nớ gần giới nghiêm, nhà còn xa, đường tối, em gấp về nhà nên cho anh lộn địa chỉ. Thay vì 381 thì lại cho anh số 181. Nguyên trước đó khi còn ở bên Cẩm Nam, thỉnh thoảng em ghé lại thăm mộ chị Xê, trước căn nhà 181, để thắp cho chỉ nén hương. Hồi chị Xê còn sống, nhà ở sát nhau, nên em thường chạy qua nhà chỉ chơi. Chị Xê thích bím tóc cột nơ đỏ nên cũng bím tóc em giống như chỉ. Sau này, khi chị Xê mất, nhiều người hỏi thăm ngôi mộ để đến viếng, em cho họ số nhà nớ. Nói miết thành quen miệng, nên tối hôm đó cho anh lộn số. Trên đường về sực nhớ ra, nhưng không thể quanh xe lại. Em biết anh học trường Trần Qúy Cáp, định đến cổng trường chờ anh để nói lại địa chỉ, nhưng làm rứa thấy dị quá, sợ nhiều người không biết, họ tưởng em là bồ anh. Phố nhỏ, đa phần biết nhau, họ mà đồn lên em đứng chờ anh ở cổng trường thì em chết mất.

   Tôi nói đùa;

   - Thì làm bồ anh cũng được có sao đâu?

   Bé Cẩm trề môi, lườm tôi:

   - Thôi đi...người anh hôi thuốc “loá” như rứa ai mà thèm. Chu choa! Đứng xa cả thước mà nghe mùi nồng nặc, còn hôi hơn thuốc Cẩm Lệ nữa.


                                  ***


   Thưa các bạn, câu chuyện đã được giải mã. Nếu không tình cờ gặp lại bé Cẩm trên chuyến tàu vượt biên năm đó, chắc suốt đời, tôi cứ mãi hoang mang về nó. Bởi vậy, đời sống có lắm điều kỳ dị, lắm điều trùng hợp lạ lùng, nếu không tìm ra sự thật sẽ tạo nên những hiểu lầm tai hại, đáng tiếc. 

   Trở lại chuyện bé Cẩm. Chuyến tàu đưa chúng tôi đến đảo Pulau Tenga vài ngày sau đó. Sau bốn tháng ở đảo, bé Cẩm được định cư ở Úc, còn tôi thì kẹt lại gần tám tháng sau mới đi Mỹ. Bé Cẩm đi rồi tôi buồn lắm, không còn dịp chọc cái giọng Quảng Nam  dễ thương của nó. Vậy mà chỉ ba tuần sau khi đến Melbourne, bé Cẩm gửi thư cho tôi, kèm theo 35 đồng đô Úc. Nó viết ngắn gọn “Anh Ngạc, nếu được đi Úc thì dọn về đây ở gần tụi em cho vui. Còn nếu anh đi nước khác, thì nhớ liên lạc với em theo địa chỉ ni. Em mới qua, còn đang đi học, chính phủ cho ít trợ cấp hàng tuần, em để dành được chút ni, của ít lòng nhiều, gửi anh mua thuốc hút... “Trời đất! Ba mươi lăm đô Úc ở thời điểm đó mà nó nói “của ít lòng nhiều?” Cảm động quá, tôi viết cho nó một bức thư dài lâm li, bi đát. Cuối thư , tôi tái bút một câu canh dờn như sau. “Cẩm à! Nhớ gửi thư đều cho anh nhen! Và cũng đừng quên kèm theo chút... “của ít lòng nhiều” để anh có đủ... năng lực hồi âm thư em. Kính bái… ý quên… thương chúc em nhiều sức khỏe, vui vẻ và lúc nào cũng nhớ anh. Anh Ngạc”


Hồ Xuân Ngọc

Friday, October 23, 2026

TÌNH THU - THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT

 

TÌNH THU
 

TINHTHU



 
 
Rừng phong, thu hãy còn xanh
Lá thu chưa vội rời cành thiên hương
Florida đượm tình thương
Brux xen1 lụa mỏng áo hường bay bay
 
Vàng son còn trải tháng ngày
Vir-nia2 vào hội ngày mai sum vầy
Hô-Sê3 rũ tím hàng cây
Như tình thu úa, tiếc ngày tháng qua
 
Ngẩn ngơ rèm vắng xót xa
Thắm lời an ủi Bras Ka4 gởi về
Chicago đã hết hè
Gió thu man mác đê mê nỗi đời
 
Trăng thu quạnh quẽ, nhớ người
Hồn thu trăm cõi chơi vơi khúc sầu
Người đi để lại thương đau
Hiu Ton5 chừng cũng …đượm màu tình thu.
 
Hoàng Ánh Nguyệt
(10.14)
 
 
1Bruxelles
2Virginia
3San Jose
4Nebraska

5Houston

Monday, October 19, 2026

TRĂNG THU VIỄN XỨ -THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT

 




 dongdua-large-content 




                             TRĂNG THU VIỄN XỨ             


Trăng thu trăng viễn xứ kìa 

Một mình ngắm ánh trăng khuya… một mình 

Trăng vàng tỏa sáng lung linh 

Bỗng nghe thu nhạc khúc tình duyên thơ



Bao ký ức khó phai mờ 

Khắc vào tâm khảm đến ngơ ngác hồn…

Từng giọt nhớ khẽ khàng tuôn

Trăng thu viễn xứ vạn nguồn thi ca



Những buồn vui cũng phôi pha 

Một ngày rồi lại ngày qua dặm dài 

Nhìn trăng thu ngắm mây bay 

Duyên ràng nợ buộc kiếp này long đong 



Dẫu thiên thu vẫn nhớ mong 

Đôi bờ cách biệt mà lòng ngẩn ngơ 

Đêm ru nửa giấc mộng hờ 

Ngậm ngùi khắc chút tình thơ vận vào 



Bao nhiêu ý gởi lời trao

Vành trăng viễn xứ nghẹn ngào thương ơi…

Ước gì quay ngược vòng đời 

Núi mòn sông cạn chung đôi chẳng rời.



Hoàng Ánh Nguyệt