TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Friday, January 15, 2016

VỀ NHƠN TRẠCH ĂN CÁ BÓNG THÙNG BÀI VIẾT HOÀNG ÁNH NGUYỆT



Về Nhơn Trạch Ăn Cá Bóng Thùng




 

       Tôi được sanh ra và lớn lên ở thành phố, nhưng lại thường xuyên có cơ hội về thăm chốn ruộng đồng, rất nhiều lần tôi được ông anh chở “đi ăn đồng quê” kiểu ăn dã ngoại vùng ngoại thành mà tôi rất thích, vừa hóng gió, vừa thưởng thức các món ăn đặc sản quê mình rất ngon.

       Nền văn hóa ẩm thực và cách ăn uống của người quê tôi Đồng Nai mà nhất là vùng Phước Khánh Nhơn Trạch …của người Việt mang dấu ấn Nam Bộ, thể hiện nét chung của văn hóa Việt Nam, ngoài những món ăn quen thuộc, người vùng quê hiện nay còn có những món ăn độc đáo, ngày càng chế biến ra vô số món ăn lạ, dân dã mà đa dạng.

      Từ thuở ông cha ta vốn đã có lắm thứ ngon ở miệt đồng và đã để lại trong lòng người ăn những dư âm khó tả mà cho đến nay vẫn còn lưu giữ, một trong những món ngon lạ không phải ai cũng có thể được qua một lần thưởng thức.

      Thiên nhiên ưu đãi nên chỉ có người miệt sông nước, ruộng đồng mới tận hưởng được hết những món quà hào phóng của thiên nhiên ban cho, quanh năm được ăn cá tươi, thêm vào đó do thời tiết mưa nắng hai mùa nên sản vật biển, rừng, sông nước, vườn ruộng bạt ngàn vô tận, là nguồn chứa khá lý tưởng nào: đuông dừa, chuột đồng, dơi, rạm, tôm tít, cúm, vọp, cá, cá sấu v…v…

      Mời các bạn về Phước Khánh Nhơn Trạch lần này để thưởng thức thêm món ăn dân dã đời thường.

      Cá bống thòi lòi biển.
 
      Những người sống vùng ven biển hoặc gần bãi bùn sông rạch nước mặn, quanh năm đều không xa lạ gì những loài cá sống riêng lẻ mà ở đó phải chịu ảnh hưởng thủy triều, loại cá này trông giống cá bống sao, nhưng lớn con và trông có vẻ dữ tợn. Đó là cá bống thòi lòi biển, có những loại cá bống có những tên khác nhau khá ngộ nghĩnh mà tên gọi quen thuộc đối với người miền Nam. Như bống mú, bóng rậm, bống sao, bống thệ, bống dừa, bống cát, bống trứng, bống tượng…Sống và đào hang dưới bùn, dưới tán rừng đước rừng mắm, ô rô hay rừng dừa nước, có nhiều ở khắp nơi, nhưng đặc biệt vùng Phước Khánh Nhơn Trạch, hay xa hơn nữa là vùng Cần Giờ, dọc bờ kênh, sông rạch, đều có giống bống thòi lòi như vậy, nước ròng thì chui vào hang, khi nước lớn ngập thì chui ra ngoài. Thực ra, cá bống không lạ gì lắm với người dân quê miền Nam, là vùng đất mà có tới trên chín mươi ba thứ cá, tôm, cua, còng…

      Nhiều người dân sành ăn thủy sản có kinh nghiệm cho biết, thường những con cá sống ở biển có bộ dạng trông xấu xí nhưng thịt chúng lại ngon hơn những con cùng loại sống ở đầm lầy. Nói thì nói vậy cũng không hẳn đúng vì những khúc sông nước lợ và mặn vùng Nhơn Trach, Cần Giờ, Gò Công, Cà Mau…là nơi cá bống thòi lòi sống quanh quẩn, mà cho thịt ngon không thua kém gì. Được xếp vào loại cá ngon nên dân nhậu rất thích.

      Đặc biệt người dân vùng Nhơn Trạch Đồng Nai gọi cá bống thòi lòi biển bằng một tên khác là cá bống thùng, cũng chưa được nghe ai giải thích lai lịch vì sao lại có cái tên phát sinh này.

      Cá thòi lòi sống vùng nước lợ, có thể lặn sâu 5 tới 10 phút, hay phóng lên mặt nước, cành cây đeo vắt vẻo và nhất là tài leo trèo trên những rễ cây đước hay cây mắm, chúng thuộc giống lưỡng cư, rất hiếu động và di chuyễn  nhanh trên mặt nước. Mồi của cá thòi lòi là: còng, tôm, nham, tép và các loại cá nhỏ.

      Những con cá bố mẹ người ở quê gọi là “cá bóng cựu”, là những con cá từ năm trước còn lại nên rất bự, thường sống kín đáo, chọn nơi ngóc ngách để đào hang sâu, đặc biệt rất thích ở  trong lùm ô rô hay trong kẹt rễ đước hoặc rễ mắm, hang sâu từ 1,5 đến 2 m, có nhiều ngách. Thế nhưng hang dầu có sâu đến đâu thì cũng không thoát khỏi bàn tay của con người.

      Lần đầu tiên khi nhìn thấy cá thòi lòi biển nhiều người trố mắt, ngạc nhiên vì chúng có cái đầu hình trụ, hai con mắt trên đầu to lồi gần hẳn ra ngoài như hai bóng đèn, nó có khả năng quan sát xung quanh, chỉ cần nghe tiếng động nhẹ là nó lủi nhanh mất dạng. Người dân có nhiều cách bắt thòi lòi, nhưng cũng tùy thuộc thói quen, tập quán của từng địa phương.

      Bống thòi lòi xuất hiện nhiều khi triều xuống, rượt bắt bằng tay thì không kết quả, vì chúng phóng chạy thật nhanh xuống hang hoặc lặn sâu dưới nước. Kinh nghiệm có người chờ nước cạn, cá chui vào hang, họ sẽ ém kín các ngách rồi cắm que cây trước miệng hang, căn lưới, đến khi nước lớn cá trồi ra là mắc lưới ngay. Ở nhiều nơi, người dân dùng xà di kết bằng lá dừa nước như miệng phễu khi cá mắc vào thì không thể nào thoát ra được.

      Trước đây cá bống xuất phát từ món ăn dân dã của bà con vùng quê, nhưng đến nay đã trở thành món ăn truyền thống, có mặt trong thực đơn của các nhà hàng khách sạn sang trọng, được giới thiệu với khách ngoại quốc như là món quốc hồn quốc túy và được thực khách Tây ta đánh giá cao, làm được nhiều món: nấu cháo tiều, chiên, kho xả ớt, kho tiêu, nướng trui, trộn gỏi lìm kìm, canh chua…

      Cá bóng thòi lòi được biết nhiều nhất và phổ biến nhất là cá bóng kho tiêu kho tộ ăn với cơm trắng, rau luộc thì rất đậm đà, tuy thanh đạm nhưng lạ miệng, một bửa cơm đặc sản rất ngon.

      Tới mùa cá bống thì con nào con nấy mập tròn , bụng căn đầy trứng. Cá được làm sạch, lột da, sắp cá vào nồi đất, ướp gia vị, đầu hành đập dập, nước mắm, đường, nước màu đem kho tiêu, để lửa riu riu, khi nghe bốc mùi thơm thơm thì phải nhắc nồi xốc vài lần cho cá thấm đều gia vị canh cho cạn nước còn xâm xấp, cho thêm chút tép mỡ và ít mỡ nước , tiêu xay, cá sẽ ửng màu hổ phách, cạn hết nước tỏa mùi thơm là được.

      Đưa lên miệng cắn miếng cá, nhai chậm rãi để tận hưởng bởi độ ngọt bùi, thơm ngon thật quyến rũ, tạo nhiều ấn tượng cho người ăn, điều đặc biệt hơn nữa là cá này để nguội vẫn không tanh, nên món này thường dành cho các bà đẻ, bởi thịt rất hiền, ít xương lại rẻ hơn cá lóc đồng. Ca dao có câu” cá bống kho tiêu, cá thiều kho mặn” để cho thấy. Cá bống kho đúng cách sẽ cho thịt tuy khô nhưng không cứng, cay cay nhờ tiêu, mặn mà thấm gia vị, thơm ngon tuyệt hảo. Hâm đi hâm lại vài lần, là lúc ăn miếng cá vừa thơm, vừa bùi cảm giác như đang ăn thịt.

      Đối với các ông dân nhậu được một dĩa gỏi cá thòi lòi nướng trui trộn lá lìm kìm thì vài xị đế Bến Gỗ là thường. Thòi lòi nướng trui sau đó xé lấy thịt, lá lìm kìm( loại dây leo mọc rất nhiều ở rừng ngập mặn). Mùa mưa lá lìm kìm xanh non. Vị lá này chua chua, chát chát lại có vị mằn mặn, đem rữa sạch trộn chung với thịt thòi lòi, hành tây thái mỏng, đậu phọng rang giã vừa, gia vị vừa ăn. Gỏi cá thòi lòi trôn lá lìm kìm ngon đặc biệt và phải được chấm với nước mắm chua ngọt mới đúng hương vị. Gắp một miếng gỏi cá cặp thêm vài lá lìm kìm nhai chậm rãi, bạn sẽ nghe lâng lâng hòa quyện khó tả. Bạn bè đãi rượu nhau chỉ cần vài món cá bóng mặc dù chỉ là món ăn dân dã nhưng là bữa ăn đầm ấm hương quê.

      Tôi hân hạnh nhiều lần về Phước Khánh, Phước An, Nhơn Trạch Đồng Nai và được thưởng thức nhiều món ngon từ cá bóng thòi lòi do các bà chị bà con giỏi nội trợ đãi, tôi thuộc loại khách quý nên được đãi ngoài những món cháo tiều, kho tiêu, nướng xả ớt, nướng trui, gỏi lìm kìm, canh chua…lần này được thưởng thức món cá bóng thùng hấp bia, cuốn bánh tráng rau sống thật tuyệt. Nói chung món nào chế biến từ “cá bống thòi lòi” ăn một lần nhớ mãi.

      Văn hóa ẩm thực trong cuộc sống hằng ngày của người quê tôi Đồng Nai, phản ánh rất sinh động, thêm vào đó do ảnh hưởng môi trường thiên nhiên cũng như đặc sản vùng đất, qua chế biến nhiều món từ đặc sản cho thấy dân gian bao đời nay đã lưu tồn, vận dụng trong ẩm thực sáng tạo vô cùng phong phú, mang sắc thái văn hóa ẩm thực rất riêng, đậm nét hương đồng cỏ nội.

 

Hoàng Ánh Nguyệt
    (San Jose/2012)
Tài liệu sưu tầm

 


BÀI ĐỌC THÊM
NHỮNG BÀI THƠ HAY CỦA THI SĨ DƯƠNG QUÂN

 

NHẮN LẠI NGƯỜI THƯƠNG


 

 
gai_que
 
  Bậu về điểm lại má hồng
Rẽ đường ngôi lệch, thắt vòng lưng thon
 Qua đi ngàn dặm nước non
Cánh chim ai biết mất còn. Bậu ơi!

 

 Quê hương - nhớ đứng, nhớ ngồi
Nhớ con đò nhỏ, nhớ người sang sông
 Đồng Nai nước chảy xuôi dòng
Qua đành mãn kiếp lưu vong xứ người

 
 Có ai thương bậu, ngỏ lời
Bậu ưng đi! Kẻo cuộc đời tàn phai
 Chừng nào mây trắng còn bay
Qua còn thương bậu như ngày...xa xưa.

 

 DƯƠNG QUÂN






 

LỜI HAY






Thursday, January 14, 2016

QUÊ HƯƠNG MIỆT VƯỜN NHƠN TRẠCH BÀI VIẾT HOÀNG ÁNH NGUYỆT







QUÊ HƯƠNG MIỆT VƯỜN NHƠN TRẠCH 

 

    Quận Nhơn Trạch thuộc tỉnh Biên Hòa thời VNCH, nay là Huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, nằm về phiá Tây Nam thành phố Biên Hòa, phía Bắc giáp huyện Long Thành (Đồng Nai) và nằm về phía Đông Nam thành phố Sài Gòn, giáp các quận 2 và quận 9, phía Nam giáp khu Rừng Sác thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nhơn Trạch là một quận xa nhất của Tỉnh Đồng Nai, từ tỉnh lỵ Biên Hòa đến Nhơn Trạch phải trải qua một khoảng đường dài trên 40 cây số, đi Quốc lộ 15 (nay là quốc lộ 51), vừa qua khỏi chợ Long Thành, gặp ngã ba, rẽ tay mặt, đi Liên tỉnh lộ 25 vào Nhơn Trạch, nhưng nếu từ Nhơn Trạch đi Sài gòn thì lại rất gần, chỉ hơn 10 cây số, qua ngã Phà Cát Lái, hoặc cũng có thể đi từ trung tâm Sài Gòn đến Nhơn Trạch bằng ngã qua phà Thủ Thiêm (sông Sài gòn) đến Cát Lái rồi qua phà Cát Lái (sông Đồng Nai) đi đến Nhơn Trạch.Trước năm 1975, nơi đây có kho đạn thành Tuy Hạ, có trường Quân Khuyển, có Khu Trù Mật Hang Nai, một vùng đất rộng, trồng lúa và nhiều loại cây trái, phong cảnh hữu tình, đặc biệt có nhiều cá sấu ở khu Rừng Sác và có nhiều loài dơi xuất hiện vào mùa sầu riêng trổ bông và mùa chôm chôm chín.

Sau năm 1975, dân chúng thành phố Sài gòn bung về đây lập nghiệp, nhờ vậy mà huyện Nhơn Trạch trở nên trù phú của Biên Hòa Đồng Nai

       Người dân thành phố Sài Gòn, gần như có thói quen, sau những ngày làm việc vất vã ở thành phố, họ muốn có được những ngày cuối tuần thư giản bằng cách thực hiện chuyến du lịch dã ngoại, sống cùng thiên nhiên để hít thở chút không khí trong lành nơi thôn quê và thưởng thức những trái cây tươi, đặc sản miền quê, họ chọn về vùng huyện Nhơn Trạch, là một huyện gần Sài gòn và còn mang màu sắc miệt vườn. Điều thú vị nhất là ghé vào các khu vườn trái cây, đi dạo quanh tìm sự thoải mái qua cảnh trời cao, sông rộng, vườn cây trĩu trái, tỏa hương. Khung cảnh mát mẻ, êm ả của miền quê Nhơn Trạch dễ khơi gợi lòng người một niềm lưu luyến …

       Nhiều phong cảnh đẹp như tranh vẽ tạo cho đối tượng một sự thanh thản, một cảm giác tuyệt vời rất êm đềm, yên tĩnh…khiến cho tâm hồn con người dễ hòa nhập vào môi trường tự nhiên, cây trái xanh tươi trĩu cành;  thích thú nhất là thưởng thức các loại trái cây trong vườn do tự tay mình hái, những chùm chôm chôm đỏ tươi và những chùm dâu chín mọng, sum suê; đi dưới bóng những hàng mít, hàng dâu, có cả hàng dừa lẫn hàng cau dọc theo dòng kênh; ngắm những bụi thơm trái thật to, giống thơm tây, được trồng men theo bờ vườn chôm chôm, sầu riêng. Thơm tây Long Thành và Nhơn Trạch cũng đang là món quà quý của người miệt vườn dành để tặng bạn bè, hoặc du khách mua làm quà cho người thân khắp nơi nhất là ở thành phố; thêm vào đó, ta nghe có tiếng chim hót líu lo trên ngọn cây…. Ta cảm nhận được mùi sầu riêng lan tỏa ngát hương. Quả thật, không khí, màu sắc lẫn hương vị  miền quê Nhơn Trạch đã giữ một vai trò đặc biệt trong việc làm thư giản tinh thần cho một số đông người dân thị thành sau những tháng ngày cố bon chen tìm lẽ sống. Những chuyến vui chơi dã ngoại cuối tuần đã thật sự trở nên cần thiết đối với người dân cư ngụ tại thành phố Sài gòn và miệt vườn Nhơn Trạch là nơi tạo nguồn thư giản đầy thú vị.

       Muốn thưởng thức những đặc sản của vùng quê Nhơn Trạch, người ta thường để ý đến các mùa vụ trong năm: cứ hết mùa bưởi, mùa dâu, mùa sầu riêng lại đến măng cụt, chôm chôm… để có thể hưởng được hương vị của trái cây đầu mùa.

        Vào mùa xuân, hoa sầu riêng bắt đầu trổ bông, du khách về miệt vườn Phú Hội, Long Tân ( huyện Nhơn Trạch) chẳng những thưởng thức nhiều loại trái cây đặc sản mà còn có dịp thưởng thức món ăn thật độc đáo được biến chế, nấu nướng từ thịt con dơi.

         Miệt vườn Phú Hội Long Tân có rất nhiều loại dơi như: dơi chó, dơi sen, dơi hương, dơi quạ…Dơi quạ là loài dơi to nhất mỗi con nặng trên ký lô và khi bay hai cánh giang dài hơn cả mét, chuyên sống bằng cách hút mật bông sầu riêng và ăn chôm chôm chín, nên những người ăn thịt dơi sành điệu ở xã Phú Hội rất ưa thích những món thịt dơi quạ. Họ cho rằng thịt dơi quạ là món ăn đại bổ, bổ phổi, bổ thận, đặc biệt là món huyết dơi pha rượu, ngoài ra, trong dân gian còn truyền miệng, cho rằng huyết dơi quạ pha rượu uống sẽ trị được chứng bịnh lao, chỉ là bài thuốc dân gian, nhưng có rất nhiều người bịnh áp dụng, mặc dù chưa có sự kiểm nghiệm của ngành Y Học, nhằm xác định tánh dược trong huyết con dơi quạ.

        Theo ông Chín  Ra, nhà ở Bến Cẩm, xã Phước Thiền và vài ông chủ vườn sầu riêng nổi tiếng ở Phú Hội cho biết, dơi quạ  xuất hiện ở miệt vườn trái cây Nhơn Trạch một năm chỉ có hai lần. Lần đầu vào mùa sầu riêng trổ bông và lần thứ hai vào mùa chôm chôm chín, khoảng Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 Âm lịch). Dơi quạ bay theo từng đàn và chọn những cây sầu riêng trổ bông thơm ngát, xà vào cắn đài bông để hút mật. Chúng rất khôn ngoan và biết phân biệt, chỉ chọn những cây thật ngon để cắn bông hút mật và thường xuất hiện lúc nửa đêm, đến tờ mờ sáng thì chúng bay về xóm Hố vùng ven khu rừng lòng chảo thuộc xã Phú Hội và Long Tân (Nhơn Trạch) để ngủ. Dơi quạ ngủ suốt ngày đến nửa đêm thì thức dậy, bay đi ăn. Người dân Nhơn Trạch cho biết, không ở đâu dơi quạ nhiều như ở xã Phú Hội, vì đài hoa sầu riêng và chôm chôm chín là thức ăn ưa chuộng nhất của loài dơi nầy.

        Để tránh cho các vườn sầu riêng và chôm chôm bị dơi quạ phá hoại, gây thất thu, các chủ nhà vườn ở Phú Hội và Long Tân nghĩ cách giăng lưới đánh bẩy, lưới có gắn lưỡi câu treo tòn ten trên cành sầu riêng, đàn dơi xà xuống ăn, thì cánh bị vướng vào lưỡi câu, càng vùng vẫy thì càng bị dính chặt, đến sáng chủ vườn chỉ việc ra gở đem vào làm thịt hoặc đưa ra chợ bán. Vườn cây nào không khéo che, gặp bầy dơi bay ngang qua chỉ một đêm thôi, đến sáng hôm sau, vườn trái sum suê chỉ trơ trọi cành không. Ông Chín cũng cho biết thêm, thịt dơi quạ chế biến nhiều món ăn rất ngon, như: Dơi quạ hấp chao, dơi quạ rô ti, dơi quạ nấu cháo đậu xanh … húp bát cháo dơi bạn sẽ thấy mình khác lạ, cảm giác rất dễ chịu, nhẹ người, khỏe khoắn thêm lên, và dân “nhậu” còn có thêm món dơi quạ xào lăn.

         Thịt dơi quạ được các ông chủ vườn cho rằng “đại bổ” vì chúng ăn toàn mật hoa và chôm chôm chín, phân dơi cũng rất hữu dụng, đã giúp ích nhiều cho nông nghiệp tạo mùa màng tươi tốt. Cây sầu riêng được bón phân dơi sẽ cho nhiều trái, đặc biệt trái thật to và nhiều múi, rất thơm ngon, cây được bón phân dơi đã cho năng suất đậu trái cao gấp đôi so với phân hóa học cũng như các loại phân hữu cơ khác.

        Mấy năm gần đây, được biết các nhà vườn trồng dưa hấu ở miệt Gò Công, Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phước, Long An và Vĩnh Long cũng sử dụng phân dơi bón dưa hấu cho năng suất cao  mà thịt dưa lại chắc, đỏ au ít hạt và cũng ít sâu bệnh, chẳng những được nhà vườn ưa chuộng  mà còn bán được cho một số cơ sở y dược mua về, sau khi loại bỏ tạp chất, bào chế ra nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh cho người, cho thú và phân dơi còn là nguyên liệu phụ gia để chế ra thuốc súng, pháo bông…

       Tác dụng của phân dơi trên nhiều loại cây ăn trái, làm tôi nhớ ra đã có dịp đọc qua cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của dược sĩ Đỗ Tất Lợi viết rằng phân dơi còn gọi là “ dạ minh sa” ( hay thiên thử phẩn, biên bức phẩn). Vì phân dơi ban đêm có ánh lân tinh, nhấp nháy nên gọi là dạ minh sa. Dạ minh sa vì có vị cay, hàn lại không độc, vào can kinh có tác dụng hoạt huyết, nếu bào chế với vài vị thuốc như thảo quyết minh, cốc tinh thảo, để chữa bệnh gan.

      Dơi quạ có rất nhiều ở Phú Hội, Long Tân huyện Nhơn Trạch và ở miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ.Và đặc biệt ở Đồng Tháp Mười hiện nay có một làng dơi, chuyên nuôi dơi để lấy phân.

       Dơi là loài vật khá nhạy cảm đối với môi trường xung quanh. Chỉ nơi nào thật sự an toàn chúng mới đến cư ngụ, như những tháp lầu cao hoặc những khu rừng rậm ít người lai vãng.

Sau đây là vài giai thoại truyền khẩu trong dân gian về vùng Nhơn Trạch (Đồng Nai)
    Nhơn Trạch là vùng đất có nhiều chiến tích lịch sử như rạch Thiềng Liềng, Đồng Tranh, Ngã Bảy, ghi dấu các trận thuỷ chiến từ thời Nguyễn Huệ đánh với Gia Long. Có các di tích kiến trúc cổ xưa như chùa Ông ở Phước Thiền, làng Đồng Môn, cùng với các nếp sống cổ truyền như nghề làm giá Phước Thọ, Phước Long, nghề làm bún ở Phước Lai, đều là những nét đẹp truyền thống, quý báu còn truyền tụng.

Xứ Nhơn Trạch có rừng giồng và rừng sác, nơi này, nước ngọt và nước mặn giao nhau tạo thành dòng nước lợ, môi trường thích hợp cho một số sinh vật như cá, tôm, cua, ốc... tạo nguồn hải sản ngon nổi tiếng không nơi nào bằng. Điều khá bất ngờ là trong số đó có cá sấu ở các ngọn sông Ông Kèo, sông Thị Vải, sông Đồng Môn, Đồng Tranh, sông Vàm Sát, rạch Vũng Gấm, rạch Chà Là, rạch Vọp, rạch Miễu… là những nơi đều có nhiều cá sấu, chúng sống thành từng bầy và được người dân trong vùng xem là “chúa nước” nhưng nổi tiếng “dữ dằn” nhất là cá sấu Vũng Gấm (là ấp của xã Phước An huyện Nhơn Trạch) nơi đây được truyền nhau từ đời này sang đời khác câu ca dao về rừng Sác

                          Rừng sâu nước mặn phèn chua
                       Trăm ngàn cá sấu thi đua vẫy vùng

Săn cá sấu cũng rất nguy hiểm, nên thơ săn cá sấu phải gan dạ và có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, không đơn giản dùng đèn và chĩa hoặc dùng mồi là chó hay vịt, chỉ để câu những loại cá sấu vài ba chục ký. Dân chuyên nghiệp câu loại vài ba trăm ký để lấy da, đồ nghề phải trang bị đầy đủ. Dân câu cá sấu chuyên nghiệp được gọi là (traomun), một nhóm vài người (được gọi là “gánh”). Con mồi để câu là một con vịt có gắn hai thanh sắt hàn chéo hình chữ thập thả xuống để nhử mồi. Traomun chính được ngụy trang bằng cách vẽ trên người những đường rằn ri trước ngực còn sau lưng họ đeo một bó phao tre và tay cầm cây lao bằng mun đầu có bịt sắt và buộc sợi dây bằng cước dài hàng trăm mét. Với kinh nghiệm lâu năm trong nghề săn cá sấu, traomun lớn tuổi nhất có nhiệm vụ quan sát, khi thấy cá sấu lớn đến gần, những vết gai sần sùi nổi trên mặt nước, cứ bơi chung quanh con mồi mà không táp ngay thì “Người mồi” biết chắc đó là cá sấu lớn “Người mồi” sẽ nhảy xuống và họ làm động tác khuấy động, đập nước, để nhử cá sấu đến gần, lúc đó “Người mồi” thừa thế đâm lao vào mang cá sấu rồi thả dây bơi vào bờ, cá sấu vùng vẫy vì bị trúng thương, thợ săn chuẫn bị hai chiếc xuồng bơi ra kè vào. Những traomun này chuyên săn cá sấu to để lấy da, phần thịt cho người dân cư ngụ trong vùng. Được biết thịt cá sấu có vị ngọt, dai, có thể nấu cháo, xào, kho hay nấu cà ri ăn với bánh mì đều ngon và rất hấp dẫn, người dân sống trong vùng Rừng Sác và những vùng lân cận ưa chuộng nên những đám giổ, đám tiệc làm với thịt cá sấu loại nhỏ 5-10 ký là chuyện thường.

Nhơn Trạch còn có một đặc sản nổi tiếng nửa đó là trà, nước trà ngon phải kể đến xã Phú Hội, cây trà gắn liền với người dân Phú Hội từ bao đời nay và cũng đã trở thành câu ca dao của quê hương Phú Hôi Nhơn Trạch “Suối Mạch Bà trà Phú Hội” Theo phong tục của người Việt Nam nói chung , người dân huyện Nhơn Trạch nói riêng, món trà không thể thiếu, nhất là trong những ngày tết. Đặc biệt đối với người lớn tuổi uống trà chẳng những làm cho con người sảng khoái (người biết thưởng thức) mà chính trà còn tạo sự gắn bó, tình làng nghĩa xóm, người dân thuộc lòng hai câu thơ

                            Tuổi già ngồi uống nước trà
                       Nên tình nên nghĩa cũng đà ra thơ

       Nước Mạch Bà được nấu sôi pha với trà Phú Hội rót ra ly trà bốc lên mùi thơm toả ra thật quyến rũ, càng tạo nên hương sắc trà Phú Hội (Nhơn Trạch).

       Nét đặc thù của miệt vườn Nhơn Trạch: Trái cây có hương vị thơm ngon khó quên, có nước Mạch Bà, có trà Phú Hội, có các món ăn biến chế từ thịt dơi rất bổ dưỡng, có nhiều thứ tôm cá ngon, là nơi săn cá sấu lý tưởng. Nhơn Trạch thuộc tỉnh Biên Hòa, nay là tỉnh Đồng Nai.  Đồng Nai là một miền đất trù phú. Tôi yêu quê tôi chẳng những Đồng Nai là vùng đất địa linh nhân kiệt, đồng ruộng màu mỡ, cây trái thơm ngon, phong cảnh hữu tình với nhiều hoa thơm cỏ lạ mà Đồng Nai còn rất ấm áp tình người, người dân Biên Hòa luôn hiền hòa và hiếu khách.
 
 
  Hoàng ÁnhNguyệt                                                                           
Thung Lũng Hoa Vàng
Mùa Hè
2008   
 
BÀI ĐỌC THÊM
 
Đất Nhơn Trạch còn sản sinh ra nhân tài, hiện nay mà chúng ta thường hay nhắc đến đó là nhà thơ Dương Quân, anh đã từng là cựu HS Petrus Ký, CSV Quốc Gia Hành Chánh (Ban Đốc Sự HC) .

Tác giả các tập thơ:
 
- Chập Chờn Cơn Mê 2003
- Điểm Hẹn Sau Cùng 2007
- Trên Đỉnh Nhớ 2010
- Như Thật Như Mơ 2013
 
Xin đọc bài thơ nổi tiếng sau đây:






 
GÁNH TRẦU MỸ HỘI
                                                                                                                                                         
 

  

   Thương nhớ gởi về quê Mỹ-Hội
   Dòng đời thắm thoát bấy nhiêu năm
   Bao mùa mưa nắng bao thay đổi
   Mà bóng người xưa vẫn bặt tăm.



              ***

   Thuở xưa Mỹ-Hội êm đềm quá
   Cây trái sum suê đủ bốn mùa
   Phước Lý về ngang Thành Tuy Hạ
   Nhà em ở dưới rặng cau thưa.


   Nhà em có Mẹ già gầy yếu
   Ba mất từ khi em biết đi
   Mẹ bán thúng trầu lưng buổi chợ
   Nuôi em khôn lớn tuổi xuân thì.


   Ngày ấy anh về thăm Mỹ-Hội
   Qua phà Cát Lái ghé Long Tân
   Tìm em trưa nắng tan phiên chợ
   Thăm Mẹ thăm em đã mấy lần.


   Con gái miệt vườn, không trang điểm
   Nhưng em rất đẹp, tánh ngoan hiền
   Má hồng, mắt biếc, làn môi đỏ
   Giúp Mẹ gánh trầu buổi chợ phiên.


   Anh trai tỉnh lỵ ra trường lớn
   Ăn học, làm quen nếp thị thành
   Hai đứa cùng nhau chung ước hẹn
   Chờ anh đi kiếm chút công danh.


   Mỗi bận trở về thăm xóm cũ
   Ra vườn gom hái lá trầu vàng
   Trầu cau chung gánh - chung duyên nợ
   Đủ nghĩa cho tình ta chứa chan.


   Gặp nhau rồi lại xa nhau nữa
   Căn dặn đừng quên sớm trở về
   Em đứng bên bờ sông Cát Lái
   Nhìn theo như níu bóng người đi.


   Chiếc phà tách bến, dòng sông rộng
   Nước xoáy lao chao đám lục bình
   Run rẩy những chồi hoa tím tím
   Thương em bịn rịn bước không đành.
 

   Công danh đeo đuổi chi mà khổ
   Đã lỡ bon chen chốn lụy phiền
   Chưa kịp đến ngày tin Mẹ mất
   Gánh trầu giờ trĩu nặng vai em.


   Anh về lần ấy, hay lần cuối
   Ngồi kế bên em xếp liễn trầu
   Chợt thấy bàn tay gầy guộc quá
   Lần đầu xao xuyến nụ hôn nhau.


   Anh đốt trầm hương xin khấn Mẹ
   Sau này được kết nghĩa trăm năm
   Em làm nội trợ, nuôi con nhỏ
   Thôi gánh trầu, thôi những nhọc nhằn.


   Rồi buổi quê hương tàn cuộc chiến
   Anh xa thành phố, sống trên rừng
   Mười năm dày dạn cùng sương gió
   Ai hẹn ngày về giữa gió sương?


   Mỹ-Hội cũng thay từng cảnh sống
   Chợ phiên cần gạo, chẳng mua trầu
   Cau khô, trầu héo, buồn trong thúng
   Vườn cũ thưa dần những bóng cau.


  
Em có khi nào qua Cát Lái
   Bến phà đứng đợi một bên bờ
   Nước sông cuồn cuộn xuôi dòng nhớ
   Những mảng lục bình theo sóng đưa?


   Như mảng lục bình trong nước xoáy
   Không về trở lại bến sông xưa
   Dòng đời xô dạt anh xa mãi
   Mà bóng người thương chẳng nhạt mờ.



              ***


   Biết có ai về quê Mỹ-Hội
   Nhắn dùm người cũ mấy lời thăm
   Giờ thân viễn xứ còn trôi nổi
   Xin hiểu lòng nhau - tạ lỗi lầm.




     Dương Quân



 
 
 

CỔ LAI HY THƠ DƯƠNG QUÂN







CỔ LAI HY



Năm nay xuân lại đến
Ta vừa tuổi bảy mươi
Ai ngờ sống lâu nhỉ ?
 
.....
..Thêm chật dưới vòm trời.

Lại một lần tính sổ
Trên tờ lịch cuối cùng
Buồn đau thêm chồng chất
Đường dài bước lưu vong.

Ta - kẻ khờ vô dụng
Tình nhà sớm ly tan
Chưa đáp đền ơn nước
Đời đã vội phai tàn.

Ta nhớ về quê cũ
Những người xưa mến thương
Thôi còn mơ gì nữa
Xa tắp những cung đường...

Quê hương ta mờ khuất
Dưới trời mây trắng bay
Ta như mây mờ mịt
Lang thang trọn kiếp này.

Vui gì xuân đất khách
Mai vàng có thấy đâu
Đầy trời sương tuyết phủ
Vạn vật nhuốm u sầu.

Năm này xuân lại đến
Rót chén rượu đầu năm
Xin mời em uống cạn
Cùng tiếp bước thăng trầm.

DƯƠNG QUÂN
 
 



Wednesday, January 13, 2016

THÁNG GIÊNG THƠ DƯƠNG QUÂN




 
Tháng Giêng 


 Tháng giêng chậm bước chân buồn
Dấu xa mộng ảo cuối nguồn thương xưa
Hồn ta trên đỉnh đong đưa
Nhớ em ta ghép vần thơ trần tình

Phương nầy vắng khách Trang sinh
Mình ta làm bướm cúi nhìn bóng ta
Kể từ đất khách bôn ba
Giấc hòe héo úa cỏ hoa bốn mùa
Tay non nhọn búp sầu đưa
Ngõ yêu có trái buồn trưa chín muồi

Mơ hồ hẹn viễn mù khơi
Vọng âm non nước thay lời hỏi thăm
Võ vàng giấc ngủ quanh năm
Nhớ em lũ tóc cũng nằm tương tư
Bút nghiên khép nép tờ thư
Vết chân chim đã mịt mờ quan san

Tháng giêng mỏi cánh hoa tàn
Cành trơ cuống lá đài trang ngậm ngùi
 Mai đây XUÂN đã qua rồi
Ta nghiêng mình xuống, tuổi đời lên cao.

Dương Quân



 

LỜI HAY






Tuesday, January 12, 2016

GHI VỘI THƠ DƯƠNG QUÂN





 GHI VÔI

Trại cải tạo Thanh Hóa:
 
 
Mái tranh, vách đất, đèn dầu
Nhà tù như thể chuồng trâu, chuồng bò
Thời Tây: "Trại Lý bá Sơ"
Cộng Hồ tên gọi bây giờ:TRẠI 5
 
Khóc bạn:
 
Khương lên Đồi Sả Khương nằm (*)
Bạn bè còn lại âm thầm khóc anh
Đời trai thôi hết tung hoành
Nấm xương giữa núi rừng xanh mịt mờ
 
Dương Quân
1980
 
(*) Lưu Trường Khương
Đốc Sự, Cao Học Quốc Gia Hành Chánh
Giám Đốc Thông Tin DVCH Vùng 4
- Đồi Sả: Nơi chôn những người tù cải tạo chết.
 
 
 

THƯƠNG MÌNHTHƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT





 

THƯƠNG MÌNH

Xuân về Thung Lũng Hoa Vàng
Nắng hồng tỏa khắp không gian muôn màu
Hoa vàng trong gió lao xao
Nhớ anh khắc khoải trắng bao đêm sầu

Vầng trăng mấy độ giang đầu
Mây phai màu tóc chiêm bao nửa chừng
Lòng mong tình mãi thủy chung
Yêu nhau dệt mộng trải cùng tâm tư ?

Nhớ anh bên ấy xa mù
Chao ơi ! thương nhớ gợn sầu  quanh đây
Tiếc bao kỷ niệm cuồng say
Những hình ảnh đẹp của ngày tháng qua.

Bao nhiêu tình ý mặn mà
Thương anh …rồi cảm xót xa phận mình.

Hoàng Ánh Nguyệt
     (Apr-09-08)


 
 
 

LỜI HAY








Monday, January 11, 2016

THƯ GỞI NGƯỜI EM QUÊ NHÀ THƠ DƯƠNG QUÂN









THƯ GỞI NGƯỜI EM QUÊ NHÀ


  Em ạ! Hôm nay Tết lại về
Anh còn biền biệt nẻo sơn khê
Nhớ em ghép vội vần thơ ngắn
Giữa lúc quanh đây lạnh bốn bề.

Anh gởi về em trọn tấm tình
Của người viễn xứ sống phiêu linh
Hẹn ngày tao ngộ - vòng tay ấm
Thêu dệt đời nhau, chuyện chúng mình.

Tết nầy em có được vui không?
Hãy điểm trang cho má dậy hồng
Cho áo em bay vờn nắng sớm
Cho người vương vấn những chờ mong.

Hoa nở vườn xuân tỏa ngát hương
Mừng xuân, sẽ xóa chuyện đau buồn
Người đi, quay bước giang hồ lại
Giũ áo phong ba, giũ bụi đường.

***
Em ạ! Sang xuân anh sẽ về
Anh giờ chợt tỉnh giấc đam mê
Chẳng cần đeo đuổi phồn hoa nữa
Miễn được gần em -vẹn ước thề.

DƯƠNG QUÂN
Tết Mậu Tý -2008
 
 
 

TRÊN BÃI BIỂN THƠ DƯƠNG QUÂN








 
Ta cứ ngỡ quay về trong cổ tích
Gặp Nàng Tiên đi lạc xuống trần gian
Giữa muôn trùng mây cao và biển rộng
Em ngồi đây, bờ cát nắng huy hoàng.
.....


Em rực rỡ như tượng thần Vệ Nữ
Nét diễm kiều, dáng công chúa Tiên Dung
Ta chẳng được như tên chài họ Chữ *
Chờ em ban một mối giải tâm đồng.

Em là gió, là mây, hay là tuyết?
Là thịt da thơm ngát cõi trần ai?
Là tóc, môi...những đường cong diễm tuyệt
Khiến hồn ta ngây ngất mộng chương đài.

Ta ao ước dang vòng tay biển rộng
Đem bao la ôm ấp tấm thân ngà
Ta muốn trải lòng ta trên cát ẩm
Nơi em nhìn từng đợt sóng thăng hoa.

Ta gọi gió thay cho lời nhắn nhủ
Tấm tình ta dào dạt tiếng ru em
Ta mượn nắng mong manh từng sợi mỏng
Dâng cho em sưởi ấm đóa môi mềm.

Ta muốn góp muôn kỳ hoa, dị thảo
Xây vườn thơ, lầu mộng, gác văn chương
Và trân trọng mời em lên ngôi báu
Cho thần dân mê đắm cảnh thiên đường.

Nhưng ta biết: xa ngoài tầm tay với
Em cao sang, đâu phải của loài người
Nên ta ghép bài thơ này rất vội
Chỉ tôn thờ, chiêm ngưỡng mãi mà thôi.

Dương Quân
 


RẰM THÁNG GIÊNG TẾT NGUYÊN TIÊU (TẾT THƯỢNG NGUYÊN) BÀI VIẾT CỦA HOÀNG ÁNH NGUYỆT



Rằm Tháng Giêng, Tết Nguyên Tiêu
 
(Tết Thượng Nguyên)

 

 

tet-nguyen-tieu-large-content

 

 

 Mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong năm.

 Cùng với mùa Xuân, tháng Giêng cũng là tháng của mùa Xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết, tim người ta cũng dường như trẻ hơn ra và đập mạnh hơn so những ngày mùa Đông lạnh giá.

 Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp. Dòng lịch sử cho thấy đất nước chúng ta đã có những thời gian cực thịnh. Quê hương đã cất lời ca tiếng hát hoà cùng với thiên nhiên.

 Tiếng hát, lời ca đó là con sông hiền hoà, tươi mát, êm ả chảy xuôi theo dòng thời gian làm nẩy sinh những lễ hội mùa Xuân; những điệu hò câu hát, tạo nên một nền văn hoá phong phú mà chúng ta vẫn hằng hãnh diện là bốn ngàn năm văn hiến.

 Chúng ta được biết rằng, những nhà nghiên cứu về văn hoá trên thế giới đã vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi tìm hiểu, biết đến những điệu hò câu hát khác nhau của dân ta, từ địa đầu ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau. Ở đâu, chúng ta cũng có những lối ru em khác nhau, một lối hát vô cùng phong phú, đặc biệt không nơi nào giống nơi nào. Nhất là những lời đối đáp rất văn chương cũng không kém phần lãng mạn và tình tứ, đôi khi đi đến sổ sàng trong những hội mùa Xuân.

…………………….

 Trăng tháng Giêng non như người con gái mơn mởn đào tơ, hình như cũng đẹp hơn các tháng khác. Cái đẹp của trăng Rằm tháng Giêng giống như nét đẹp của nàng tiên nữ kiêu sa huyền diệu…

 Nét văn hoá chung gặp nhau của 3 miền: Bắc, Trung, Nam trong Lễ Hội Rằm tháng Giêng:

Lễ Tết quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng…

 Theo Phật Giáo, ngày Mồng Một và ngày Rằm hằng tháng được coi là ngày Rằm của Phật, mà nhất là ngày Rằm tháng Giêng, các tín đồ đến ngày ấy đi chùa lễ Phật. Cũng là ngày Rằm đầu tiên nên nhiều người tin rằng ngày ấy đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng cho lòng thành của Phật Tử. Thêm vào đó, cái không khí vui Xuân vẫn còn đậm đà, cho nên chính là dòng người từ già đến trẻ, đi lễ đầu Xuân đông hơn, mong cầu Phật gia hộ độ trì cho quanh năm bình yên và cũng tin rằng lời thành tâm khẩn nguyện ấy sẽ được chứng giám. Đây còn là ngày Vía Thiên Quan, người ta đến chùa cúng sao để giải trừ tai ách, ước nguyện điềm lành, được xem là phong tục đẹp, một nét sinh hoạt văn hoá tín ngưởng của người Việt Nam.

 Không biết những lời thỉnh cầu có đến được cữu trùng hay không, nhưng mọi người đều tin rằng sau khi đi lễ đầu năm, hay đi trẫy hội về, tâm hồn của họ như được thắp sáng lên và hy vọng ngày mai cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn…

 Trong dân gian, đa số theo phong tục thờ cúng ông bà, thì Rằm tháng Giêng trước hết được hiểu là ngày Rằm lớn. Các chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên các Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

 Tuỳ theo lòng thành cũng như ngành nghề, có gia đình cúng lễ Thổ Công, Thần Tài hoặc cúng âm hồn…nhưng đặc biệt không ai có thể quên bày mâm cỗ để cúng gia tiên, bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, cám ơn trời đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả…Tuy nhiên mâm cúng gia tiên có khác nhau tuỳ phong tục của từng vùng, từng miền.

 Theo truyền thống văn hoá cư dân nông nghiệp lúa nước, vụ mùa gieo trồng thường được bắt đầu vào khoảng 15 tháng Giêng, sau một thời gian dài nghỉ Tết Nguyên Đán. Người nông dân bắt đầu công việc đồng áng và bắt đầu một vụ mùa, cho nên họ đốt rạ, khai hoang và hạ điền. Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, nét văn hoá này thể hiện rất rõ với 3 vụ mùa trong năm:

Rằm tháng Giêng ai siêng thì quảy

Rằm tháng Bảy kẻ quảy người không

Rằm tháng Mười, mười người mười quảy

Hay câu:

Lễ Phật quanh năm

Không bằng ngày Rằm tháng Giêng

 Đã thấy tầm quan trọng của ngày lễ này đối với người dân Việt Nam, có thể nói những ngày lễ này đã hoà quyện giữa văn hoá truyền thống và tín ngưởng.

 Vì sao có lễ hội Rằm tháng Giêng?

 Trong 12 ngày Rằm, Rằm tháng Giêng mang nhiều ý nghĩa với nhiều tên gọi khác nhau như Tết Nguyên Tiêu, Nguyên Tịch, Nguyên Dạ, Thượng Nguyên…

 Cách gọi này bắt nguồn từ giao lưu văn hoá Trung Hoa và có sự kết hợp hài hoà với văn hoá bản địa. Người dân ai cũng mong mỏi có một vụ mùa tốt tươi, thay vì đốt rạ khai hoang thì người Trung Hoa có một lễ hội cúng “Hoa Đăng” hay còn gọi là “Tết Nguyên Tiêu”.

 Lễ hội Rằm tháng Giêng được du nhập vào Việt Nam theo phong tục Tết Nguyên Tiêu của người Hoa. Tết Nguyên Tiêu có nghĩa là đêm Rằm đầu tiên của năm mới (Nguyên là thứ nhất, Tiêu là đêm, ngày Rằm tháng Giêng âm lịch). Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên bởi vì còn có Tết Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy) và Tết Hạ Nguyên (Rằm tháng Mười) .

 Và đêm 15 tháng Giêng sẽ là Đêm Nguyên Tiêu, người xưa và cả ngày nay đều cho rằng đêm đẹp nhất của ánh trăng trong năm. Dù bao biến đổi của đất trời đã và đang diễn ra, nhưng xưa và nay, vầng trăng tháng Giêng vẫn vẹn nguyên như thế, tròn và trong sáng giữa đêm Xuân. Thế thôi cũng đủ để lòng người ta cảm tạ trời đất ban cho mặt trời còn tặng cả vầng trăng, trăng già còn trăng non, trăng tròn rồi trăng khuyết. Trăng mùa Đông tàn thì còn trăng Xuân đón đợi. Đó chính là vầng trăng toả sáng cái Tết trăng tròn khỏi sự cho đêm rằm đầu tiên của năm mới: Rằm tháng Giêng!

 Theo nho học, xưa kia ngày này là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp trăng sáng đầu năm nhà vua cho mở đại tiệc tại vườn thượng uyển triệu các vị trạng nguyên đến dự hội, ngắm cảnh, xem hoa, làm thơ xướng hoạ, ca ngợi các vẻ đẹp thiên nhiên và ân đức nhà vua đã đem lại cho muôn dân an lạc, thái bình, thịnh trị.

 Dần dần những buổi họp mặt tương tự vào đêm Rằm tháng Giêng được các văn nhân, thi sĩ tổ chức, không chỉ trong vườn thượng uyển với nghi lễ vua tôi, mà ở nhiều nơi, việc xem hoa ngắm cảnh dưới trăng thoải mái hơn, những vần thơ xướng hoạ, đối đáp phong phú và sinh động hơn.

Tết Nguyên Tiêu hình thành là một sinh hoạt tao đàn trang nhã. Văn nhân, thi sĩ, nhất là các cụ cao niên thì thưởng trăng thù tạc với nhau bằng chén trà, chung rượu, bàn cờ. Các cụ không phải gặp nhau để chén tạc, chén thù, mà chỉ ngâm nga bàn tán những câu tâm đắc. Đúng như cái cảnh tuyệt vời thơ mộng của Đêm Nguyên Tiêu.

 

Hoàng Quỳnh Hương
(Hoàng Ánh Nguyệt)
(Tài liệu sưu tầm)

 

CON GÁI THUỲ TRANG & CHÁU NGOẠI SAMON CANADA



HAI ME CON CANADA 2015




Saturday, January 9, 2016

LỜI RU THƠ DƯƠNG QUÂN







LỜI RU

Anh mơ ước có lần ru em ngủ
Em gối đầu nằm trên cánh tay anh
Mùi tóc thơm, nồng nàn hơi em thở
Lời anh ru rót mật, đẫm ân tình.

Lời anh ru, xin thấm vào trong đá
Cho đá mềm, chân cứng bước em đi
Đường gian nan, nẻo đời chia trăm ngã
Có vầng dương soi tỏ lối em về.

Lời anh ru, để nhớ thời sơ cổ
Buổi hồng hoang, trái cấm lén chia hai
Kể từ đó, cả loài người chung khổ
Vẫn tìm nhau, dù muôn kiếp lạc loài.

Anh sẽ ru, nguyện cầu cho quê cũ
Làng xóm yên vui, trăm họ thái hòa
Giòng lịch sử, cơ trời xoay vận nước
Ngày bạo quyền tan biến sẽ không xa.

Anh sẽ ru, hòa bình cho thế giới
Mặt đất này, tràn nắng ấm yêu thương
Người với người, trao nhau niềm tin mới
Hạnh phúc đơm hoa, no ấm phú cường.

Lời anh ru, dành riêng em trìu mến
Anh hiểu em, lòng có sẵn từ tâm
Trong bình yên, hay cuồng phong bão nổi
Vẫn ung dung như tiếng suối thì thầm.

(Suối trong xanh, thong dong trường lưu thủy
Những cành khô, lá mục, lớp rong rêu
Sẽ trôi qua nhẹ nhàng, không vương vấn
Sẽ cuốn theo từng lớp lớp thủy triều).

Em hãy ngủ bình yên. Em yêu nhé!
Mộng thần tiên cho chữ nghĩa thăng hoa
Thơ chắp cánh, môi hồng tươi rạng rỡ
Hãy hồn nhiên như lứa tuổi ngọc ngà.

Anh mãi mãi sẽ ru em tròn giấc
Tình đã đầy, ước vọng cũng bao la.


              Dương Quân
 
 
 

CHÁU CHẮT CARDENAS


THANKSGIVING 2015