TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Saturday, May 8, 2021

MẸ, TRÁI TIM VĨ ĐẠI - BÀI VIẾT HOÀNG ÁNH NGUYỆT

MẸ , TRÁI TIM VĨ ĐẠI



 
 MẸ TÔI XƯA THẬT LÀ XƯA
Image result for BÔNG HỒNG VU LAN
 
Tôi có cái tật gần như cố hữu, năm nào cũng vậy, cứ gần đến ngày Hiền Mẫu, là tôi thích đọc những lời thơ hoặc được nghe những dòng nhạc diễn tả về tình mẹ. Một thứ tình bao la, sâu lắng, tuyệt diệu, muôn màu… không có một thứ tình cảm nào sánh bằng mà hầu như mọi người đều ý thức được vai trò quan trọng của người mẹ và sự hiện diện của bà trên cõi đời, nên đã không ít văn nhân thi sĩ và cả nhạc sĩ trút tâm tư vào đề tài nầy. 
 Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền 
 Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên 
 Là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao
 Là ánh đuốc trong đêm, khi lạc lối…
 (đ/k Bông Hồng Cài Áo của NS Phạm Thế Mỹ) 
  Mẹ là ánh đuốc trong đêm… Mẹ là bóng mát, là chỗ dựa, che chở đời con trong mọi hoàn cảnh buồn vui của cuộc đời…Lời của bài hát Bông Hồng Cài Áo tôi rất ưa thích và tôi có dịp được nghe mỗi mùa Vu Lan về. 
 Đã bao thế hệ trước đây, văn hóa Việt Nam gắn liền với cuộc sống khi diễn tả tình cảm con người thật sâu sắc. Đặc biệt viết về “ Tình Mẹ” một thứ tình cảm, di sản tinh thần bất diệt nhất trong đời của chúng ta và cũng đã từng đề cao tấm lòng của mẹ. 
 Người Việt Nam, khi nói về Đạo Phật thì chúng ta không bao giờ không tưởng nhớ đến đức Quan Thế Âm Bồ Tát được tôn kính dưới hình thức Mẹ Quan Âm.
 Đạo Chúa có Thánh Nữ Đồng Trinh Đức Maria. Tước hiệu Giáo Hội dùng để gọi Đức Maria là Mẹ. Và Mẹ là đức tin trong tín hữu.
 Trong tín ngưỡng dân gian bình dân người Mẹ linh thiêng của dân tộc Việt Nam có Thánh Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân tôn thờ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định…Thể hiện đó là niềm tin và đã ăn sâu vào tâm tư, tình cảm của mỗi người. 
 Trên tất cả những tình cảm nhân loại là tình cảm cha mẹ, chỉ cần nghe tiếng Mẹ là tim ta đã thấy rung động, đã thấy tràn ngập yêu thương vô lượng, vô bờ … 
 Thuở ấu thơ cắp sách đến trường được thầy cô dạy mà hầu hết trong chúng ta không ai là không thuộc lòng: 
 Công cha như núi Thái Sơn
 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
 Một lòng thờ mẹ kính cha
 Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
 Nước trong nguồn chảy ra thì mãi mãi không dứt, mọi người con đều hiểu nước trong nguồn chảy thì bất diệt cũng như hiểu “biển sâu bao la” nhưng công cha nghĩa mẹ lại càng “bao la hơn, mênh mông hơn”, trái tim của mẹ thật vĩ đại là kim cương, là vĩnh cữu, là vẹn toàn và chỉ có sự tràn đầy tình cảm nồng ấm, thương yêu. 
 Lúc thiếu thời tôi cũng thường được nghe các câu ca dao lưu truyền đã in đậm vào tâm trí tôi cho mãi đến bây giờ: 
 Đố ai đếm được lá rừng
 Đố ai đếm được mấy tầng trời cao
 Đố ai đếm được vì sao
 Đố ai đếm được công lao mẹ hiền…
 Tình thương của cha mẹ cho con là không giới hạn, thương con cha mẹ không đòi hỏi bất kỳ một sự báo đáp nào, nghĩ đến con thường xuyên hầu như tất cả thời gian, và trọn cuộc đời, cũng không hề trách phiền con bất hiếu. Niềm hạnh phúc của bất cứ người mẹ nào đều mong muốn nhìn thấy con mình được nên người, trở thành người hữu ích cho xã hội, lòng yêu thương quảng đại của cha mẹ đã dạy con rất nhiều, hướng con làm điều lành và lánh xa mọi điều dữ, tâm tư tình cảm của cha mẹ đều dành hết cho các con. 
 Tây phương có ngày dành cho cha ( Father”s Day) và cho mẹ (Mother”s Day) rất quan trọng. 
 Theo tìm hiểu, tôi được biết hằng năm cứ đến ngày Chủ Nhật thứ hai của tháng Năm dưong lịch đặc biệt để nhớ ơn mẹ, được mang tên Mother’s Day (Ngày Hiền Mẫu, Ngày Mẹ Hiền), nhằm tôn vinh các bà mẹ, được diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới (có thể được tổ chức khác ngày với nhau), là dịp cho mọi người nhắc nhớ đến công ơn sanh thành, dưỡng dục của Mẹ Cha, ngày mà ai ai cũng nô nức để bày tỏ lòng kính yêu, hiếu thảo và cũng là một ngày lễ thiêng liêng nhất, tình cảm nhất, ý nghĩa nhất đối với mỗi người trong chúng ta vì ai ai cũng chỉ có một cha một mẹ sinh ra . Người có chút lương tâm ai cũng cho rằng đó là tài sản vô cùng quý giá, đời đời vẫn bất diệt trong trái tim của mọi người… 
 Tình mẹ thương con mênh mông bao la như trời, như biển. Nói đến mẹ, không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý có thể so sánh như tình của mẹ thương con. 
 Đã có biết bao văn nhân, thi sĩ viết về mẹ, bao nhiêu câu hò điệu hát, bao nhiêu văn thơ ca tụng tình mẹ. Những bài hát, những bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng hay, cũng có những rung cảm chân thành, nói bao nhiêu cũng không đủ viết bao nhiêu cũng không vừa, lời nào về mẹ cũng thật thiết tha: 
 Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
 Mẹ, Mẹ là nải chuối, buồng cau
 Là tiếng dế đêm thâu, là nắng ấm nương dâu
 Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời… 
 Mẹ là lọn mía ngọt ngào, mẹ là nải chuối, buồng cau là nắng ấm là tình yêu thương con bao la…Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã diễn tả tình mẹ qua bài Bông Hồng Cài Áo với những lời ca thật bình dị.
 Thương con mẹ nào quản nắng mưa, không ngại gì sớm khuya vất vả. Sau mỗi ngày dài cực nhọc, bên ruộng vườn, nương sắn những mong ước của mẹ là làm sao nuôi nấng cho đàn con khôn lớn, nên người. Thật vậy, không ai có liên hệ mật thiết và dịu dàng với con cho bằng mẹ, không ai yêu thương chăm sóc con cho bằng tình mẹ, chín tháng mẹ mang nặng, mẹ đã cho con tiếng khóc chào đời trong vòng tay thương yêu của mẹ, bao năm mẹ nâng niu bú mớm, bầu sữa ngọt của mẹ cho ta thơm ngát cuộc đời, mẹ quạt nồng, ấp lạnh. 
Bài hát Tình Mẹ của nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy cũng đã nói lên công ơn của mẹ cha bao la như biển trời: 
 “Khẽ ngắt nụ hồng cài lên mái tóc xanh mẹ yêu. Tóc rối một đời, vì năm tháng chở che đời con…
 Khi ấu thơ con nào đâu có biết, mẹ lặng lẽ trong ngàn nỗi muộn phiền. Dù bao gió mưa , tình mẹ vẫn thiết tha êm đềm. Mẹ là những tiếng hát ấm áp ru con khi đông lạnh về, Mẹ là những ánh nắng lấp lánh đưa con đi trên đường quê. Để con khôn lớn lên dang rộng đôi vai, rồi đưa chân bước đi theo từng đêm vui. Mẹ vẫn thứ tha dù cho con mang bao nhiêu lầm lỗi.
 Mẹ đã có phút dấu nước mắt cho con thơ ngây nụ cười
 Mẹ đã có lúc thức trắng cho con bao đêm ngủ say
 Ngày con nâng bó hoa xinh chào tương lai,
 Mẹ cô đơn đứng bên hiên đầy mưa bay
Trên mỗi bước đi xin mãi khắc ghi tình mẹ bao la biển trời” 
 Những bài hát những lời thơ ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có tuy rất giản dị nhưng thật cảm động. 
 Tôi nhớ có lần tôi đọc bài thơ “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” rất đơn giản, nhưng tất cả nói lên tâm trạng của người con xa mẹ thật cảm động của nhà thơ Trần Trung Đạo tôi xin trích một đoạn: 
 Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
 Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
 Đau thương con viết vào trong lá
 Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
 
 Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
 Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
 Ví mà tôi đổi thời gian được
 Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
 Những câu hò ru con ầu ơ của mẹ thuở đầu đời nghìn năm vẫn còn in đậm, thấm thiết, những ngày đầu tiên đi học, mẹ âu yếm dắt tay con đến trường. Tôi còn nhớ rất rõ năm tôi 7 tuổi mẹ dắt tôi đi ngày đầu tiên đến trường tôi nắm chặt tay mẹ như không muốn rời mà nước mắt chảy dài…Chúng ta không thấu hiểu hết tình cảm của cha mẹ dành cho ta, nào có biết vì con mà mẹ vất vả hằng ngày, đến khi chúng ta thật sự trưởng thành, con khôn lớn mẹ chìu chuộng, an ủi, vỗ về, chở che…Mẹ lo âu nhiều nhất chính là lúc con bước vào ngưỡng cửa cuộc đời...chỉ mong sao, sau này con trở thành người có ích cho xã hội và quê hương… 
 Con bước vào đời đầy khát vọng, giữa dòng đời muôn ngã, mỗi khi chiều xuống mẹ lại mong ngóng tin con, mẹ lo sợ con đối diện với cạm bẫy, phong ba, bão táp phũ phàng luôn rình rập…Mẹ là biểu tượng của dòng sông, dòng sông tươi mát êm đềm tưới lên đời con niềm “ Hạnh Phúc” công ơn cha mẹ to biết dường nào, cho dù ở bất cứ thời đại nào, bất cứ nền văn minh văn hóa nào và dẫu ở đâu tình mẹ cũng vẫn cứ mãi là như thế… 
 Người Việt Nam chúng ta đi đâu cũng thường ví lòng của mẹ cha rộng như đại dương, như suối nguồn, mãi mãi không bao giờ cạn. Bản nhạc bất hủ, chan chứa yêu thương Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân đã diễn tả trái tim của mẹ thật vô cùng vĩ đại, thật tuyệt vời: 
 Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
 Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào
 Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu
 Thương con thao thức bao đêm ngày
 Con đã yên giấc mẹ hiền vui sướng biết bao….
Tôi nghĩ chẳng ai trong chúng ta lại không biết bài hát này với giai điệu thật tình cảm và vô cùng mượt mà. 
 Hiện nay ở Việt Nam mừng ngày Hiền Mẫu vào ngày Quốc Tế Phụ Nữ 08 tháng 3 (International Women’s Day) và gọi là ngày của mẹ. 
 Hằng năm cứ đến ngày rằm tháng 7 Âm lịch ( khoảng giữa tháng 8) hầu hết các chùa đều tổ chức đại lễ Vu Lan Báo Hiếu, đã được truyền lại từ ngàn xưa và vẫn còn duy trì đến ngày nay, để nhắc nhở, khuyến khích các con cháu của thế hệ sau này về lòng hiếu thảo luôn được đề cao và sự thương tưởng đến mẹ cha, lấy chữ “ Hiếu” làm đầu, là dịp báo ân cha mẹ, các Phật Tử nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục, những ngày này đến thắp nhang, cúng dường, cầu nguyện cho Quốc thái dân an, cầu cho các vong linh được siêu sanh tịnh độ, cầu cho cha mẹ hiện tiền có được cuộc sống an lành, sức khỏe và phước lộc.
 Trong ngày này người nào còn mẹ sẽ tự hào được cài lên áo hoa hồng đỏ, người nào không còn mẹ thì thổn thức, buồn thương, xót xa cài lên áo hoa hồng trắng. 
 Cho đến nay việc các chùa tổ chức lễ Bông Hồng Cài Áo hàng năm đã trở thành truyền thống. 
 Cũng đặc biệt trong mùa Vu Lan còn có những câu thơ tôi thường được nghe khi chúng ta còn cha còn mẹ: 
 Đêm Vu Lan trăng tròn vằng vặc
 Nhớ mẹ cha canh cánh bên lòng
 Cha còn như ngọn đèn trong
 Mẹ còn như ánh trăng rằm mùa thu 
 Tôi may mắn và là người diễm phúc nhất đời, sung sướng lẫn tự hào được cài hoa hồng đỏ, hạnh phúc hơn nữa là đang được sống bên mẹ. Vì không có niềm vui nào thiêng liêng, đậm đà bằng niềm vui còn mẹ. 
 … Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
 Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
 Thì xin anh, thì xin em hãy cùng tôi vui sướng đi
 Hãy cùng tôi vui sướng đi…
 (Bông Hồng Cài Áo của NS Phạm Thế Mỹ) 
 Thật ra trên thế gian này mối tình nào rồi cũng có ngày tan vỡ, phai mờ trong ký ức...Duy chỉ có tình mẹ là thiên thu bất diệt. Ai đã sinh ra đời cũng đều có mẹ, nhưng có người được sống với mẹ và nhiều người phải sống cảnh thiếu mẹ, những người được sống trong tình thương yêu của mẹ là điều diễm phúc. Chính vì “Tình Mẹ” thương con như biển hồ lai láng, tình mẹ vượt cả thời gian, không gian nên không bao giờ bị ngoại cảnh chi phối, tình mẹ mãi mãi không biên giới, là nơi chốn thiên đường của đời con, Trái tim mẹ chỉ có sự tràn đầy. Mẹ là gốc của yêu thương gắn bó từ máu huyết.
 Một người mẹ có thể nuôi cả đàn con khôn lớn nên người…Nhưng rồi cả đàn con ấy không nuôi nổi một mẹ già…
 Như lời ca dao thật sâu sắc diễn đạt: 
 “Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể
 Con nuôi mẹ con kể từng ngày”… 
 Có biết bao nhiêu trường hợp, biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng bao đau khổ từ khi lấy chồng, sanh con rồi lặn lội thân gầy nuôi con nên người. 
 Hôm nay nhân ngày Hiền Mẫu, chúng ta những người đang còn mẹ và hạnh phúc hơn nữa là đang dược sống gần mẹ, với tất cả lòng kính yêu, quý mến. Tôi nghĩ chúng ta không cần phải đợi đến ngày Mother’ Day (Ngày Hiền Mẫu) hay Father’s Day (Ngày Từ Phụ) hoặc ngày lễ Vu Lan chúng ta mới nghĩ đến cha mẹ, mua quà cho cha mẹ, mà bất cứ lúc nào, phút giây nào khi cha mẹ còn hiện tiền năng tới lui thăm viếng, chăm sóc, an ủi cận kề bên cha mẹ, thể hiện tình thương của chúng ta đối với cha mẹ già, đó là bổn phận, là món quà quý nhất của những người con hiếu thảo. Chẳng có gì quý giá hơn khi mình đang còn có mẹ vì: 
 Mẹ già như chuối chín cây
 Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi…
 Chúng ta phải biết trân quý và phải trân trọng giữ gìn, vì chuối chín cây thì có thể rụng bất cứ lúc nào… 
 Niềm vui của cha mẹ ở tuổi về chiều, không gì hơn là được nhìn thấy con cháu trưởng thành, nên danh, đạt nghiệp, giúp ích cho đời và điểm quan trọng là mong muốn con cháu trong gia đình luôn thuận thảo với nhau …Sự thành đạt và hòa thuận của con cháu là một món quà tinh thần vô giá, được ví như một bó hoa tươi thắm và ý nghĩa nhất mà chúng ta, phận làm con cháu, cần thực hiện và dâng lên cho Người Mẹ của chúng ta vậy. 
 Tôi thầm cám ơn cuộc đời. Cám ơn ba mẹ đã cho tôi hiện diện trên thế gian này. Cám ơn những lời giáo huấn của người, đó là hành trang quý báu, tôi mang theo suốt cuộc đời.
 Mẹ tôi năm nay đã chín mươi lăm tuổi, nhưng sức khỏe vẫn bình thường, tinh thần còn minh mẫn, còn vui thú đọc sách, xem phim và đang sống chung với tôi tại San Jose-Cali, để tôi có dịp phụng dưỡng Bà. Tôi cho đây là niềm hạnh phúc nhất của tôi, tuổi đời đã bảy mươi rồi, mà vẫn còn được sống trong tình thương của mẹ. Tôi thầm cầu mong mẹ tôi sống lâu với con cháu và tôi thường lẩm nhẩm câu ca dao: 
Mẹ già như chuối ba hương 
Như xôi nếp một, như đường mía lau. 

HOÀNG ÁNH NGUYỆT
 (HOÀNG QUỲNH HƯƠNG) 
 (San Jose-Cali)




Tuesday, May 4, 2021

Friday, April 23, 2021

THÁNG TƯ ĐEN - THƠ TRẦN THUÝ NGỌC , THÁNG TƯ NGẬM NGÙI - THƠ HỒ LONG ẨN



THÁNG TƯ ĐEN
 
THÁNG TƯ ĐEN 
(4-1975)

     Tháng tư là tháng tư nào?
Đạn bay, bom nổ, máu đào tuôn rơi
     Rền vang pháo kích tơi bời
Bình yên bỗng chốc ngập trời hiểm nguy

     Tháng tư là tháng tư gì?
Rừng sâu khỉ, vượn tràn về phố đông
     Bỏ nhà, người chạy chập chùng
Văn minh sụp đổ, anh hùng gãy gươm

     Tháng tư là tháng tư buồn
Giặc vào cướp bóc, thê lương dân hiền
     Giặc vào đốt sách, đổi tiền
Chiếm nhà, đập phá chùa chiền tan hoang

     Tháng tư làng xóm điêu tàn
Hờn căm, uất hận ngập tràn núi sông
     Tháng tư thiếu phụ khóc chồng
Trại “tù cải tạo” đi không trở về

     Tháng tư áo não, ê chề
Triệu người hối hả tính bề vượt biên
     Trùng trùng biển cả oan khiên
Trước hàm cá mập ngửa nghiêng xác người

     Tháng tư đói rạc nơi nơi
Bo bo cho ngựa, nay người phải ăn
     Từ nay xuống kiếp lầm than
Đọa đày dân Việt hàm oan tội gì?

               Trần Thúy Ngọc
             (Vườn Bưởi BH)


THÁNG TƯ NGẬM NGÙI - THƠ HỒ LONG ẨN

Thang Tu Ngậm Ngùi Hồ Long Ẩn.

THÁNG TƯ NGẬM NGÙI

(4-1975)

  

Tháng Tư uất hận ngập trời

Bao lòng ray rứt, bao người xốn xang 

Vẫn chưa vơi nỗi bàng hoàng 

Bốn mươi năm lẻ, lầm than, não nùng!

 

Giặc vào tàn ác điên khùng 

Chúng gieo thảm cảnh hãi hùng triền miên 

Dân lành chịu lắm muộn phiền 

Quê hương đói khổ… ngồi yên sao đành

 

Ngậm ngùi nhớ tháng tư đen 

Lìa quê yêu dấu, bon chen xứ người 

Mong sao con cháu nhớ lời 

Chuyên cần học tập nên người, giúp dân 

 

Chung lòng diệt lũ vô thần

Một loài quỹ dữ, ác nhân bạo tàn

Cứu dân Việt thoát lầm than

Truất sạch bè lũ ác gian về rừng

 

Trời quang thuận bước xuôi dòng 

Quyết tâm đuổi giặc, muôn lòng vùng lên 

Gió lành, biển lặng, sóng êm 

Cờ vàng ba sọc tung lên vẫy chào 

 

Quốc kỳ khắp nước giăng cao

Tự Do Dân Chủ, máu đào thôi rơi

Quê Hương Tổ Quốc bao đời

Việt Nam Hồng Lạc rạng ngời sử xanh.

  

Hồ Long Ẩn

(Tháng 4-2018)




Friday, April 16, 2021

THƯƠNG TIẾC NGƯỜI PHI CÔNG TRẺ - HOÀNG ÁNH NGUYỆT



Thương Tiếc Người Phi Công Tr

  phicong
        Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo kaki…
   Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Anh, em trai hầu hết là quân nhân. Chồng tôi, Hoàng Ngọc Thái Đại Úy Công Binh, anh Hai Thiếu Tá Pháo Binh, anh Ba Chiến Tranh Tâm Lý, em thứ Năm Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Công Binh, em thứ Sáu Trung Sĩ Pháo Binh, và em thứ Bảy Trung Úy Không Quân. Tất cả những quân nhân trong gia đình đã chiến đấu hào hùng vì lý tưởng, chính nghĩa Quốc Gia, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho một Tổ Quốc Tự Do toàn vẹn.
    Năm 1967, Em tôi, Hồ Xuân Đạt, khi vừa đậu xong bằng tú tài II, dù vẫn được hoãn dich vì lý do học vấn, vẫn tình nguyện lên đường theo tiếng gọi của non sông. Em đã xếp áo thư sinh, Từ giã học đường, gia đình, bạn bè…gởi lại sau lưng những kỷ niệm, những ước mơ thật đẹp, thật hồn nhiên của tuổi mới lớn.
   Năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, em được chọn vào ngành Không Quân và được gửi đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi công trực thăng (Helicopter) tại tiểu bang Texas Hoa Kỳ.
   Năm 1970, khi tốt nghiệp em về lại Việt Nam, phục vụ tại phi trường Biên Hòa thuộc Sư Đoàn III Không Quân QLVNCH. Ngay chính nơi chôn nhau cắt rún của mình.
phicong1
Bằng Lái Máy Bay
    Hai năm sau, vì nhu cầu chiến trường, em nhận lệnh thuyên chuyển ra vùng I chiến thuật, công tác tại phi trường Đà Nẵng rất gần với đơn vị của chồng tôi. Khi ấy, chồng tôi, đại úy Hoàng Ngọc Thái, đại đội trưởng đại đội Biệt Lập 127 Cầu Nổi.
 Hàng tuần vào những ngày nghỉ, em hay về nhà tôi chơi trong khu cư xá Phước Tường Đà Nẵng. Chị em có nhiều dịp gần gũi nhau hơn. Em hay kể cho tôi nghe về những chuyến bay tác chiến, những phi vụ tiếp tế và tải thương tại chiến trường về đêm đầy những hiểm nguy mà em tham dự. Về những người lính can đảm đã anh dũng chiến đấu, đã hy sinh bỏ mình cho tổ quốc.
Chiến tranh vẫn tiếp diễn và em tôi, vẫn hằng đêm thực hiện những phi vụ hiểm nguy để yểm trợ, sát cánh cùng chiến hữu các đơn vị để chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.


phicong2
   Tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tin tức địch quân sắp chiếm Đà Nẵng làm dân chúng xôn xao, hỗn loạn tìm đường thoát chạy. Trong khu cư xá sĩ quan của Liên Đoàn 8 Công Binh, tôi không làm sao liên lạc được với chồng vì anh đang phải cấm trại tại đơn vị. Vừa lo lắng cho chồng, vừa lo cho Đạt em tôi, vừa lo cho chính bản thân mình và các con. Sau này nghĩ lại, thời gian ấy thật sự đáng sợ và kinh khủng nhất trong đời tôi.
   Bỗng nhiên một buổi sáng trước ngày Đà Nẵng thất thủ, Đạt lái trực thăng đáp xuống khoảng sân rộng trước nhà tôi ở khu cư xá sĩ quan Công Binh Phước Tường. Khi bước vào nhà gặp tôi, trông em có vẻ căng thẳng và lo lắng. Em nói “Chị và các cháu chuẩn bi sẵn sàng. Em sẽ trở lại đón vào phi trường tìm đường về Sàigòn càng sớm càng tốt”.  Nói xong, em quay lưng bước vội về chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy ngoài sân. Trước khi cất cánh, em nhìn tôi rồi gượng nở nụ cười qua khung cửa gió của con tàu.. Tôi không bao giờ ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Đạt. Cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nụ cười của em tôi. Một nụ cười buồn, rất buồn. Bởi, em chẳng bao giờ trở lại đón tôi như lời đã hứa.
   Ngày 29/03/1975 Đà Nẵng thất thủ.
   Ngày 05/05/1975 với nhiều vất vả, khổ cực, tôi một mình dìu dắt bốn đứa con nheo nhóc từ Đà Nẵng về nhà mẹ ở Sàigòn. Về đến nhà Mẹ thì mới hay Thái, ông xã tôi,  đã có mặt ở nhà Mẹ cả tháng, vì nghĩ rằng chú các cháu ( trung uý phi công Hoàng Ngọc Thịnh lái A37 không Quân QLVNCH) đưa  vợ con vào phi trường Đà Nẵng về Sài Gòn trước rồi, nên trong lúc thất thủ anh cũng vất vả tìm cách về Sài Gòn, anh có ngờ đâu vợ con anh còn kẹt lại Đà Nẵng. Bỏ ăn, bỏ ngủ với thân hình tiều tụy, vì nhớ thương vợ con, anh đã không từ một xác trôi nổi nào được tấp vào bất cứ bãi biển, bến tàu nào anh cũng tìm đến nhìn mặt xem có phải vợ con mình không, anh lang thang khắp nơi như người mất hồn.Tôi cũng không gặp được anh vì anh đã đi ngược ra Đà Nẵng tìm vợ con sau một tháng trời mất liên lạc. Giữa đường anh bị bắt, bị bịt mắt còng tay ra sau lưng, bị dẫn độ đi ngày đêm trong rừng sâu, và từ đó anh bặt tăm, một lần nữa tôi lại đi tìm chồng, không biết địch có để cho anh sống hay chúng đã giết anh rồi…Nhưng may mắn anh còn sống.  Tôi đã gặp anh và anh đang bị tù mãi tận trong núi Kỳ Sơn Quãng Nam…
        Ngày tháng trôi qua cả nhà tôi lại tiếp tục đi tìm em trai Đạt, hết trại tập trung này đến trại cải tạo kia, vẫn không nơi nào có tên em, cứ tưởng Đạt bay đi được ra khỏi Việt Nam và đang tị nạn ở Hoa Kỳ, Canada hay một nước nào đó trên thế giới, không ngờ đến tháng  11/1975  một anh quân nhân VNCH cùng đi trên chuyến bay định mệnh, sau khi máy bay bị bắn rớt, anh bị bắt đi tù gần 8 tháng về kể lại:
        Máy bay cất cánh vội vàng với số lượng quá tải, cũng cố cất cánh bay cao rời khỏi phi trường Đà Nẵng với bao nhiêu người trên chuyến bay định mệnh trong những giờ phút mà đạn pháo quân thù bay ra xối xả, Đạt có ngờ đâu đó là phi vụ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp…
        Khi phi cơ bay qua vùng Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định thì bị một loạt mưa đạn AK của địch từ phía dưới bắn lên nhắm ngay buồng lái, Đạt bị trúng thương, người phi công nữa vào thay cũng bị bắn, trong lúc Đạt bị bắn trọng thương anh lính đã chăm sóc, Đạt biết mình không thể sống, nên đọc địa chỉ nhờ nhắn tin về nhà, cả hai phi công đều tử nạn, chiếc trực thăng không người lái, bay chúi xuống ruộng, sát chân núi. Những người trên chuyến bay còn sống đã bị địch bắt…
        Vẫn giữ lời, sau khi ra tù anh quân nhân tốt bụng, đã tìm đến tận nhà báo tin về chiếc phi cơ của Đạt bị địch bắn và rơi xuống vùng Bồng Sơn (Bình Định) ngày 27/03/1975 như tôi đã kể trên. Và chỉ rõ địa điểm máy bay lâm nạn.
         Quá bất ngờ lẫn đau sót và vô cùng bối rối, và cũng vì anh lính vội vã về gia đình nên anh lính chỉ báo tin cho biết và đi ngay, cả nhà tôi nghe tin sét đánh, đã lặng người, không còn nghe thấy gì, không còn nhớ tên anh lính cũng như địa chỉ hay quê quán nơi anh cư ngụ…
        Theo lời anh lính chỉ đường, tôi và Má tôi đi xe đò ra Bồng Sơn, mặc dù không rành đường, nhưng khi xe chạy gần đến nơi tôi linh tính như có ai dẫn đường, tôi kêu xe ngừng lại đúng ngay địa điểm chiếc máy bay vẫn còn nằm dưới đám ruộng tuốt trong xa, gần chân núi, chỉ cần sơ ý xe chạy lướt qua, coi như không thể tìm thấy.
           Xuống xe quan sát, tôi nhìn thấy ngay nấm mộ đất dưới bờ ruộng, sát lề đường QL.I. ,không mộ bia. Hai bên đường là ruộng, xa xa mới có một căn nhà. Má và tôi tìm đến căn nhà gần nhất để hỏi thăm, cũng may mắn chính ông chủ căn nhà là một trong số những người dân ở đó chôn em tôi khi bị nạn giữa đường mà không có thân nhân… Mộ em nằm cách nhà ông khoảng 50 m. Thuộc thôn Vân Cang, Xã Hoài Đức Huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định.
        Ông chủ nhà rất tử tế, khi được biết chúng tôi đi tìm mộ người thân, ông mời Má và tôi ở lại nhà ông,vì khi tìm đến nhà ông trời cũng đã chạng vạng. Một căn nhà tường xây thật lớn, coi như ông là người khá giả nhất vùng đó, tắm rửa xong, ông mời dùng cơm, một bửa cơm thịnh soạn, thật cảm động, ông kể:
        Khi máy bay rớt ông là người đứng ra chôn cất em tôi và một phi công nữa cùng bị nạn chung trên chuyến bay này. Nhưng anh phi công đó được gia đình biết sớm nên đã di dời về quê. Đêm đó ông lại nhường phòng ngủ của ông cho hai má con tôi ngủ, cái đặt biệt nữa là cái bóp của Đạt, tôi đã nhận ra ngay vì khi em tôi du học Mỹ em mua về sử dụng tôi có biết cái bóp da có hình đầu con Ngựa được đóng nổi. Trong bóp lại còn có tấm hình em mặc bộ đồ bay, tôi mang ra và xin phép ông được nhận lại kỷ vật…Ông rất vui vẻ. Ông cho biết khi ông chôn cất em tôi ông giữ lại kỷ vật này, ông vẫn để trên đầu giường (giường hộp) của ông.
        Sáng hôm sau, Má tôi nhờ ông làm dùm tấm bia bằng gổ cắm trên mộ em tôi. Vì mộ mới nên không thể hốt cốt mang về. Và lần gặp này gia đình tôi rất mang ơn ông, mỗi khi có dịp vào Sài Gòn ông và các con ông đều ghé nhà chơi.
         Năm năm sau Má tôi trở ra Bình Định hốt cốt em về và hỏa thiêu, sau đó gửi cốt vào chùa, Đạt mất khi em mới 25 tuổi.
         Cái kỷ niệm đau thương, buồn rầu ấy cứ mãi đeo đẳng theo tôi đến tận bây giờ, trong trí tôi lúc nào cũng hình dung cái chết tức tưởi, đau đớn của em mình và trong lòng tôi như có một vết thương chưa lành hẵn…
        Bài viết này, tôi ôn lại và ghi lại những gì tôi còn nhớ, những gì tôi được biết. Tôi chỉ còn nhớ và chắc chắn là không đầy đủ chi tiết.
         Đã 40 năm qua, thời gian cứ trôi, bao kỷ niệm cay đắng vẫn còn, càng cố quên  hình ảnh đứa em thân thương đó tôi lại càng cứ nhớ, càng  yên lặng là lúc hồn tôi miên man nhớ về quá khứ, cái quá khứ đau xót mà gia đình tôi nhận lấy.
         Có nhiều kỷ niệm, kỷ niệm vui buồn, nhiều thứ để quên, nhưng nỗi đau mất mát này không thể nào phai nhạt. Đạt là đứa em gần gũi tôi nhiều nhất.
         Chiến tranh qua đi, là một nỗi đau hằn sâu vết thương lòng cho những người còn lại, sau cuộc chiến là sự mất mát tang thương, bao nhiêu người con yêu của tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về, bao nhiêu quả phụ chít khăn tang khi mái tóc còn xanh, trở thành góa phụ ngây thơ với nỗi buồn và sự mất mát to lớn.
         Không có người Mẹ, người vợ nào trên thế giới lại không tan nát trái tim, trước sự mất mát quá lớn này, sự ra đi vĩnh viễn của những người con, những người chồng, người cha của mình “Vị Quốc Vong Thân” ! Đã hy sinh một cách âm thầm.
        “Tổ Quốc Không Gian”, vùng mây trời mênh mông bao la đã vương giọt máu đào của em tôi, của Đạt, của những người anh hùng nghiêng cánh sắt. Cố bảo vệ, gìn giữ quê hương, đã đem sinh mạng đổi lấy hai chữ “Tự Do”.
        Hồ Xuân Đạt một phi công trẻ của QLVNCH, đã chết vì quê hương, dân tộc. Là người thanh niên Biên Hòa, lớn lên trên dãy giang sơn hoa gấm thân yêu hình chữ “S”, một đất nước hiền hòa đầy tình dân tộc được dựng xây bằng xương máu của các bậc tiền nhân bốn ngàn năm văn hiến, sẽ mãi mãi làm trang sử QLVNCH đời đời sống dậy và người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ chết.
        Xin chân thành biết ơn những anh em Thương Phế Binh VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương, cho chúng tôi còn được nguyên vẹn. 
        Xin chân thành gởi nén hương lòng “Tưởng Niệm” đến những Anh Hùng QLVNCH. Những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẫn tiết vì quốc nạn 30/04/1975 và những người ngã gục trong lao tù cộng sản. Những Anh Hùng Bất Tử trong dòng lịch sử Việt Nam. 

Hoàng Ánh Nguyệt
(San Jose 2015)



Sunday, April 11, 2021

CHIỀU MƯA - THƠ DƯƠNG QUÂN







CHIỀU MƯA
 (Gởi người bên kia)



Chiều giăng mây xám lưng trời
Giọt mưa rả rích cho đời buồn tênh
Vi vu gió hú đầu cành
Hỏi người bên ấy tâm tình có vui?

Ở đây mưa rất ngậm ngùi
Vắng tanh chẳng thấy bóng người thoáng qua
Giọt mưa lạnh buốt hiên nhà
Vần thơ cũng đẫm xót xa ngôn từ.

Nhớ về lời dạy cổ thư
Anh hùng cũng lụy bên bờ mỹ nhân
Quẩn quanh trong chốn hồng trần
Đời sa cơ đã bao lần ướt mưa.

Hỏi rằng: Cội phúc nghìn xưa
Vụng tu sao lại đổ thừa căn nguyên?

Cầu mong người được ấm êm
Gió mưa xin để dành riêng phương này
Chia ly là biển đọa đày
Nhớ thương là mộng chất đầy trang thơ.

Biết ai hứa hẹn mà chờ
Như mưa chiều vẫn mịt mờ không gian
Hạt mưa gội những phai tàn
Héo hon tình sử, ngổn ngang cõi buồn.

Nhạt nhòa lịm tắt hoàng hôn
Hỏi người có lạnh những cơn mưa chiều?
 
 


DƯƠNG QUÂN