(AÍ ST trên Net)
TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT
TRĂNG VIỄN XỨ
Trăng treo ảo ảnh biên đình
Trăng soi lữ khách độc hành viễn du
Trăng thề hẹn bến tương tư
Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người
(Dương Quân)
Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT
Tuesday, October 28, 2014
KIẾN THỨC Y HỌC
Tình Trạng Sa Sút Trí NhớBS Lương Lễ Hoảng
Đừng tưởng ngưởi già mới lẫn. Tình trạng sa sút trí nhớ đến độ "vừa nghe đã quên" của người trẻ từ lâu đã vượt xa mức báo động.
Ai chưa tin xin thử xem có bao nhiêu người nhớ nổi số...driver license !
Nhiều người quên tuốt luốt, quên giờ vào sở, quên luôn công việc, quên cả vợ con, đến độ sau giờ làm việc phải ngồi hàng giờ ở bàn nhậu để cố nhớ nẻo về nhà, thậm chí quên hết đến độ chỉ còn nhớ có mỗi ngày... lãnh lương!
Chuyện gì cũng có lý do.
Bộ nhớ mau hư thường vì nạn nhân chính là thủ phạm, do thiếu nhiều thứ cùng lúc lại thừa vài món trong cuộc sống thường ngày.
Đó là:
* Thiếu ngủ:
Không kể người lỡ chọn nghề trực đêm, thiếu ngủ vì thức quá khuya, dường như là "mốt" của nhiều cư dân trong các thành phố.
Kẹt một điểm là chất lượng của trí nhớ gắn liền với độ sâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg-Holstein.
Nhưng nếu tưởng như thế chỉ cần dùng thuốc ngủ để ngủ cho được nhằm tăng cường trí nhớ thì lầm.
Thuốc an thần tuy tạo được giấc ngủ, nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo, khiến bộ nhớ quên luôn công việc.
* Thiếu nước:
Não lúc nào cũng tiêu thụ không dưới 20% năng lượng của cơ thể riêng cho chức năng tư duy.
Não vì thế rất cần nước và chất đường sinh năng.
Theo chuyên gia ở Đại học Erlangen, uống không đủ nước trong ngày lại thêm bữa ăn chiều thiếu chất ngọt là một trong các lý do khiến tín hiệu thần kinh vừa nhập vào lại ra ngay, cứ như nước đổ đầu vịt.
* Thiếu dầu mỡ:
Chất béo loại cần thiết cho cấu trúc của tế bào thần kinh như 3-Omega, Acid Linoleic... là món ăn chính của não bộ.
Đừng tưởng kiêng cử là béo tốt cho não. Trái lại là khác.
Tất nhiên đừng để tăng chất mỡ máu vì đó là yếu tố bất lợi cho hoạt động của bộ não.
Nhưng thiếu mỡ cũng tai hại tương tự.
* Thiếu dưỡng khí:
Thêm vào đó, não không thể dán tín hiệu thần kinh, dù là hình ảnh hay âm thanh vào bộ nhớ nếu tế bào thiếu dưỡng khí vì
thiếu máu.
Chính vì thế mà nhiều thầy thuốc khuyên dùng cây thuốc có công năng cải thiện hàm lượng dưỡng khí trong não bộ ngay cả cho người chưa phát hiện triệu chứng "đụng đâu quên đó.
* Thiếu vận động:
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy người cao tuổi nếu vận động thể dục thể thao trong ngày thì ít quên hơn người không vận động.
Theo các nhà nghiên cứu về lão khoa ở Hoa Kỳ, vận động trong ngày là điều kiện để bộ não không thiếu dưỡng khí trong đêm.
Cũng không cần hình thức thái quá, nhẹ nhàng thôi, như đi bộ, bơi, chạy xe, khí công..., miễn là ngày nào cũng có.
* Thiếu tập luyện:
Muốn não "bén nhọn" như xưa mà không tập luyện chẳng khác nào chưa học bài.
Chơi ô chữ, sudoku, học ngoại ngữ, vẽ tranh..., kiểu nào cũng tốt, càng nhiều cách giải trí càng hay, miễn là đừng ngồi yên mỗi ngày nhiều giờ trước máy truyền hình vì đó là hình thức tai hại cho bộ não.
* Thừa Stress:
Bôi sạch bộ nhớ là một trong các phản ứng phụ của nội tiết tố nẩy sinh trong tình huống Stress.
Biết vậy nên tìm cách pha loãng Stress bằng thể dục thể thao, thiền định, kiểu nào cũng được, miễn vui là chính.
Thêm vào đó, đừng tự đầu độc cơ thể và bộ não bằng thuốc lá, rượu bia, thịt mỡ...
Với bộ não "ngập rác" thì quên là cái chắc, vì đâu còn chỗ nào để nhớ!
* Thừa chất oxy-hóa:
Hàm lượng chất gây rỉ sét tế bào, sản sinh từ rối loạn biến dưỡng, độc chất trong môi trường ô nhiễm, khói thuốc lá, độ cồn, phụ gia trong thực phẩm công nghệ, hóa chất trong dược phẩm... càng cao, tế bào não càng mau già trước tuổi.
Cầm chân chất oxy-hóa bằng hoạt chất kháng oxy-hóa , vì do’ là biện pháp chinh’ để bộ nhớ đừng mau "hết đát".
Hãy đừng "đem não bỏ chợ" qua lối sống chẳng khác nào có thù sâu với não bộ.
Nếu đối xử với não bạc bẽo thì đừng trách có lúc
Sunday, October 26, 2014
VAN HOC
Đầy đủ tài liệu về Tổ Sư PÉTRUS TRƯƠNG VỈNH KÝ
Petrus Ký là một nhà bác học VN về ngôn ngữ, giỏi tiếng Hán, Nôm và Pháp, người đã có công trong phát triển chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên vì là một tín đồ Thiên Chúa nên không được triều đình Huế vinh danh, đến thời kỳ cách mạng dù rằng Cụ Pétrus Ký đã là người thiên cổ nhưng vẫn bị gán cho là theo Pháp. Chúng ta trân trọng tài năng của một nhà bác học Việt Nam đã làm cho chữ quốc ngữ trong sáng ở thời kỳ đầu và trường Trung Học P.Trương Vĩnh Ký Saigon đã đào tạo biết bao thế hệ trí thức và khắp năm châu, các tài năng từ trường Petrus Ký đã đóng góp rất lớn cho trí tuệ khoa học của cả thế giới chứ không riêng gì VN. (Trí Vịnh)
Pétrus Trương Vĩnh Ký
Kể từ khi giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đến Việt Nam truyền đạo vào năm 1625, Đắc Lộ đã là người tiền phong trong việc quốc ngữ hoá tiếng việt từ gốc hán sang mẩu tự La mã mà tác phẩm nổi tiếng là cuốn tự điển Việt-Bồ-La (Việt-Bồ đào Nha-Latin) ra đời vào năm 1651.
Với hàng trăm tác phẩm, Pétrus Trương Vĩnh Ký là một trong những người đã đóng góp vào việc canh tân và hoàn thiện tiếng việt, một ngôi trường lớn ở Sài Gòn đã lấy tên ông đặt cho trường học nổi tiếng, nơi đã đào tạo những người con ưu tú của miền Nam VN trước 1975 - Ngôi trường đã bị đổi tên sau khi miền Nam được giải phóng - tuy nhiên tên tuổi của Pétrus Trương Vĩnh Ký vẫn còn ngự trị trong tiến trình xây dựng văn hoá và văn học Việt Nam, một vài người đã viết về Pétrus Ký:Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn… Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là “cách nói tiếng An Nam ròng” và viết “trơn tuột như lời nói”. Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn.-Thanh Lãng
Ông là người, từ nhỏ được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, khi trưởng thành theo giúp việc người Pháp, thế mà bằng hữu viết thư giục ông, ông không nghe, vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ quần áo Việt Nam và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy.- Lê Thanh.Trương Vĩnh Ký (6 tháng 12 năm 1837 - 1 tháng 9 năm 1898) khi mới sinh có tên là Trương Chánh Ký, tự Sĩ Tải, theo đạo Công giáo nên có tên thánh: Jean-Baptiste Pétrus, nên còn gọi tắt là Pétrus Ký. Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học Việt Nam, thông thạo 26 ngôn ngữ, được ghi trong Bách khoa Tự điển Larousse và là một trong 18 văn hào thế giới của thế kỷ 19. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật.Trương Vĩnh Ký thiết tha với nền văn học Quốc ngữ và được coi là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ Việt Nam. Ông sáng lập, là tổng biên tập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên, cũng là cây bút chủ chốt của rất nhiều báo khác. Vì thế có thể xác định rằng Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong làng báo chí Việt Nam - hay còn gọi là ông tổ của ngành báo chí việt, phương tiện truyền thông đại chúng đầu tiên ở Việt Nam, trước khi có đài phát thanh và truyền hình.Petrus Trương Vĩnh Ký trong y phục triều nhà Nguyễn
Tiểu sử
Trương Vĩnh Ký, người tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre - Kiến Hoà cũ). Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Năm ông 3 tuổi, thân phụ ông được triều đình cử đi sứ sang Cao Miên rồi mất ở bên ấy.Tượng Petrus Ký ngày nay tại Cái Mơn
Đi học
Nhờ mẹ tần tảo, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Ký được đi học chữ Hán, do thầy đồ dạy tại Cái Mơn. Đến năm lên 9 tuổi, ông được linh mục Tám đem về nuôi, vì nhớ ơn lúc nhà Nguyễn cấm đạo Công giáo gắt gao; ông Thi, tức cha của Pétrus Ký, đã hết lòng che giấu ông.Ông Tám mất, có hai nhà truyền giáo người Pháp, thường gọi là Cố Hòa, Cố Long, biết Pétrus Ký vừa có trí thông minh vừa chăm học, nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy chữ Latin. Năm 1848, Cố Long đưa Pétrus Ký sang học tại Chủng viện Pinhalu ở Phnom Penh, Cao Miên.Nhà bia đá Petrus Ký ở Cái Mơn
Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc, trong số đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện Giáo Hoàng ở Pinang thuộc (Malaysia). Đây là một trường chuyên đào tạo các tu sĩ cho vùng Viễn Đông...Mặt trước bia đá tại Cái Mơn
Năm 21 tuổi (1858), Trương Vĩnh Ký đang học đến năm thứ 6, và chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp để chịu chức linh mục, thì vào lúc giữa năm, ông phải vội vàng về nước vì được tin người mẹ hiền qua đời.Pétrus Ký trở về quê hương Cái Mơn giữa lúc Pháp đem quân vào chiếm Việt Nam, bắt đầu từ Đà Nẵng ngày 1 tháng 9 năm 1858, rồi Sài Gòn ngày 17 tháng 2 năm 1859, đến Gia Định, tiếp theo là việc mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Vì thế, việc cấm đạo công giáo cũng diễn ra gay gắt hơn. Lúc ấy, Pétrus Ký phân vân rồi quyết định không trở lại chủng viện nữa.Mặt sau bia đá tại Cái Mơn
Cộng tác với Pháp
Để tránh bị bắt bớ, Trương Vĩnh Ký chạy lên Sài Gòn vào tá túc nhà vị giám mục người Pháp Lefèbre, và được ông này giới thiệu làm thông ngôn cho Jauréguiberry vào ngày 20 tháng 12 năm 1860.Năm 1861 Pétrus Ký thành hôn với bà Vương Thị Thọ (con gái ông Vương Ngươn, hương chủ làng Nhơn Giang, Chợ Quán) do linh mục Đoan họ đạo Nhơn Giang mối mai và dời về cư ngụ ở Chợ Quán, Sài Gòn.Nhà Petrus Ký cư ngụ ở Chợ Quán - 1889Ngày 8 tháng 5 năm 1862, Pháp thành lập trường Thông ngôn (Collège des Interprètes), ông được nhận vào dạy.Năm 1863, triều đình Huế cử một phái đoàn do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông, Phan Thanh Giản xin Trương Vĩnh Ký đi theo làm thông ngôn.Nhà Petrus Ký ngày nay ở Chợ Quán
Sang Pháp, Pétrus Ký cùng phái đoàn nhà Nguyễn được triều kiến Napoléon III, gặp nhiều nhân vật tên tuổi thuộc nhiều lãnh vực khác nhau. Ngoài ra, ông còn được sang thăm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và được yết kiến Giáo hoàng tại La Mã.Về nước, năm 1865, Trương Vĩnh Ký viết cho tờ Gia Định báo (tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên) do ông Ernest Potteaux làm quản nhiệm.Phía trong nhà Petrus Ky - Chợ Quán
Năm 1866, ông thay thế linh mục Croc làm hiệu trưởng Trường Thông ngôn. Ngày 15 tháng 9 năm 1869, ông được thủy sư đô đốc Pháp là Ohier bổ nhiệm làm chủ bút tờ Gia Định báo và tờ An Nam chính trị và xã hội.Ngày 1 tháng 1 năm 1871, Trường Sư phạm (École normale) được thành lập, Pétrus Ký được cử làm hiệu trưởng.Ngày 1 tháng 4 năm 1871, Pétrus Ký được Pháp phong hạng nhất huyện (hàm), được cử làm thư ký Hội đồng châu thành Chợ Lớn.Năm 1873, Pétrus Ký được giao nhiệm vụ điều hành trường Tham biện Hậu Bổ (Collège des administrateurs stagiaires), dạy Việt và Hán văn và cũng bắt đầu viết sách.Nhà mồ của Petrus Ký vào khoảng năm 1930
Năm 1876, thống đốc Nam Kỳ Duperré cử ông ra Bắc Kỳ tìm hiểu tình hình miền Bắc. Năm 1877, ông là hội viên duy nhất và đầu tiên người Nam, được cử làm ủy viên hội đồng cai trị Sài Gòn.Năm 1883, ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong hàm Viện sĩ (Officier d'Académie).Năm 1886, Paul Bert - nghị sĩ, hội viên Hàn lâm, bác học gia sinh vật học - được cử sang Đông Dương làm khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vốn là bạn từ trước, nên Paul Bert mời Trương Vĩnh Ký ra Huế giúp việc.Ngỏ vào nhà mồ Petrus Ký, đường Trần Hưng Đạo
Đến Huế, Pétrus Ký được vua Đồng Khánh cho lãnh chức trong Cơ mật viện Tham tá, sung Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ.Ngày 11 tháng 11 năm đó, Paul Bert bất ngờ bị bệnh chết, Trương Vĩnh Ký bị nhóm thực dân không cùng cánh bỏ rơi, bạc đãi; và bản thân Pétrus Ký sau đó cũng bị triều đình Huế nghi kỵ và trù dập nên ông lấy cớ đau phổi xin từ chức về lại Sài Gòn dạy học tại trường Hậu Bổ, trường Thông ngôn và viết sách...Nhà mồ Petrus Ký hiện nayPhiá trong nhà mồ Petrus Ký
Cuối đời
Mặc dù đã trở về đời sống của một viên chức, nhưng Trương Vĩnh Ký vẫn bị người khác phe tìm cách hạ bậc lương và làm khó dễ việc vào ngạch giáo sư sinh ngữ Đông Phương của ông. Rồi năm 1888, trường Thông ngôn đóng cửa, Pétrus Ký gần như thất nghiệp.Và khi trước, lúc còn được ưu ái, những sách của Trương Vĩnh Ký đều được nhà cầm quyền Pháp bỏ tiền ra in, để phân phối cho học sinh. Nhưng từ khi bị hất hủi, lui về ẩn dật ở Chợ Quán, ông phải bỏ tiền riêng ra in ấn và tự phát hành. Sách ế ẩm khiến Pétrus Ký phải mắc nhiều nợ.Tượng Petrus Ký trên Đại Lộ Thống Nhất ở Sài Gòn trước 1975
Năm 1887, sau khi đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương, ông nghỉ hưu. Năm 1888, ông xuất bản tạp chí tư nhân Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées) được 18 số (1888 - 1889).Sống trong hoàn cảnh buồn bã, túng quẩn, bệnh hoạn luôn, Pétrus Ký qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1898.Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông), hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc Quận 5, Sài Gòn.Buổi khánh thành tượng Petrus Ký trên Boulevard Norodom
Chức vụ, huân huy chương
Không những Trương Vĩnh Ký là một nhà văn tiền phong của nền văn học chữ quốc ngữ mà ông còn là một học giả rất nổi tiếng. Trong quá trình hoạt động, ông đã được nhận các chức việc và huân huy chương:
- Nhận huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863.
- Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu.
- Năm 1874, được phong giáo sư ngôn ngữ Á Đông, vì Pétrus Ký đã thông hiểu 27 sinh ngữ trên thế giới.
- Trong cuộc bầu chọn “ Toàn Cầu Bác Học Danh Gia” vào năm 1874, Pétrus Ký đã được bình chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 “Thế giới Thập Bát Văn Hào”.
- Nhận huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886.
- Trở thành hội viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.
- Trở thành hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.
- Nhận huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.
- Nhận Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.
- Nhận Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886.
- Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887
- Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt.
- Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ.
- Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
- Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.
Trước đây, ông được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa công nhận là một học giả, có công lao góp vào việc hoàn thiện tiếng việt nên đặt lại tên cho một ngôi trường trung học lớn nhất miền Nam (chuyển từ Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký sang Trường Trung Học Pétrus Ký). Sau năm 1975, trường này được đổi tên là trường trung học Lê Hồng Phong ở Sài Gòn.Tượng Petrus Ký nhìn về hướng Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn trước 'Giải Phóng' 1975, nay đã bị phế bỏ.
Hiện nay tại Sài Gòn cũng có 1 trường mang tên Trương Vĩnh Ký là Trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký.Một số tác phẩm
Ông có rất nhiều tác phẩm (118 tác phẩm hoặc 121 tác phẩm), lược kê một số như:
- Truyện đời xưa
- Abrégé de grammaire annamite (Tóm lược ngữ pháp An Nam)
- Kim Vân Kiều (bản phiên âm ra chữ quốc ngữ đầu tiên)
- Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine
- Cours de langue annamite (Bài giảng ngôn ngữ An Nam)
- Voyage au Tonkin en 1876 (Đông Kinh du ký)
- Guide de la conversation annamite (Hướng dẫn đàm thoại An Nam)
- Phép lịch sự An Nam (Les convenances et les civilités annamites)
- Lục súc tranh công
- Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois (Bài giảng tiếng quan thoại hay chữ Trung Quốc)
- Cours d'histoire annamite (Bài giảng lịch sử An Nam)
- Dư đồ thuyết lược (Précis de géographie)
- Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ
- Cours de littérature annamite, 1891 (Bài giảng văn chương An nam)
- Cours de géographie générale de l'Indochine (Bài giảng địa lý tổng quát Đông Dương)
- Grand Dictionnaire Annamite-Français (Đại tự điển An Nam-Pháp) v.v...
Hiện còn nhiều trước tác của Trương Vĩnh Ký đã bị thất lạc, không còn đầy đủ hoặc nằm ở thư viện nước ngoài.Nỗi lòng
Hay tin Pétrus Ký, một con người tài giỏi, sẽ ra làm việc với Pháp, một số quan lại nhà Nguyễn đâm ra nghi kỵ ông. Nhưng sau nhiều toan tính, ông nghĩ rằng phải làm việc để giúp đỡ đồng bào, nhất là lúc ấy, Pháp và Nam triều chưa hiểu nhau, chưa thành thật với nhau. Pétrus Ký đã mượn câu châm ngôn Latin Ở với họ mà không theo họ (Sic vos non vobis), để biện minh cho việc nhận lời làm thông ngôn cho Jauréguiberry.Sau 1975, tượng Petrus Ký được dời về Bảo Tàng Nghệ Thuật "Hui Bon Hoa"
Ngày 8 tháng 11 năm 1870, ông có lời di huấn: Người đời sanh ký tử quy, đàng đi nước bước vắn vỏi lắm. Nhưng ai cũng có phận nấy, hể nhập thế cuộc bất khả vô danh vị, cũng phải làm vai tuồng mình cho xong đã, mới chun vô phòng được. Sự sống ở đời tạm nầy, đỏ như hoa nở một hồi sương sa; vạn sự đều chóng qua hết, tan đi như mây như khói. Nên phải liệu sức, tùy phận mà làm vai tuồng mình cho xong....
Bài thơ ông sáng tác lúc gần lâm chung :
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
Học thức gửi tên con mọt sách,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài!
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
Và câu ghi nơi nhà mồ bằng tiếng Latinh: Miseremini Mei Satem Vos Amici Mei (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi).Về hoa quả ở Cái Mơn
Ông còn được xem là có công trong ngành làm vuờn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như làsầu riêng, chôm chôm tróc, măng cụt tróc, bòn bon (Lansium domesticum)... đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.Trái bòn bon mà Pétrus Ký đem từ Pinang, Mã Lai về trồng ở Cái Mơn
Vài nét về Trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký
Năm 1925 kiến trúc sư Hebrard de Villeneuf được chỉ định lập bản đồ thiết kế một ngôi trường mới tại Chợ Quán.
Ngày 28-11-1927 Toàn quyền Đông Dương G.Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này đặt dưới sự điều hành của Ban Giám Đốc trường Chasseloup Laubat và một giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.Tượng đặt trong Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký
Năm 1928 khi các khu trường mới xây dựng xong,ngày 11-8-1928 Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều,thành lập tại Chợ Quán ,kể từ kỳ tựu trường 1928-1929,một trường Cao Đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này,và được mang tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký.Cổng trường Petrus Ký trước 1975
Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký , thường gọi tắt là Lycée Petrus Ký khai giảng ngày đầu tiên là ngày 01-10-1928 . Hiệu trưởng đầu tiên là Ông Sainte Luce Banchelin, giám học là Ông Boulé, phát ngân viên là Ông Mahé. Chủ tịch hội đồng quản trị là Ông Gazano và các ủy viên người Việt Nam là Ông Nguyễn Thành Giung, tiến sĩ hóa học, giáo sư khế ước, Ông Hồ Bảo Toàn và Trần Lê Chất, quan chức, là hai phụ huynh học sinh, ủy viên người Pháp là hai Ông Sainte Luce Banchelin và Mahé.Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký
Từ 1949 đến 1950 học sinh Petrus Ký tham gia các phong trào đấu tranh của học sinh Saigon như chống độc lập giả hiệu, tẩy chay cuộc viếng thăm hai trường Petrus Ký và Gia Long của Bảo Đại vào tháng 9-1949, đòi học tiếng Việt trong nhà trường. Ngày 23-11-1949 toàn trường bãi khóa đòi thả 5 học sinh của trường bị bắt. Ngày 24-11-1949 nhà cầm quyền lúc bấy giờ ra lệnh đóng cửa trường vô thời hạn. Đến tháng 12-1949 phụ huynh và học sinh đòi nhà cầm quyền mở cửa trường trở lại cho học sinh đi học. Nha học chánh Saigon bắt buộc học sinh muốn học lại phải làm cam kết. Cuộc đấu tranh dằng co đến ngày 9-01-1950 học sinh các trường đồng loạt hẹn nhau đi biểu tình yêu cầu Giám đốc Nha học chánh và Thủ hiến giải quyết. Chánh quyền không giải quyết được và lúc 12g30 theo lệnh của thực dân Pháp đưa lính đến giải tán và đàn áp cuộc biểu tình dẫn đến cái chết của Anh Trần Văn Ơn, học sinh lớp Seconde (lớp 10 bây giờ) của trường Petrus Ký.Lối vào chính của trường Petrus Ký trước 1975
Cái chết anh Trần Văn Ơn dấy lên làn sóng căm phẩn cả nước. Ngày 12-01-1950 gần cả triệu người ở Saigon và nhiều tỉnh về dự đám tang anh Ơn, hầu như cả Thành phố Saigon ngưng hoạt động, ngưng họp chợ, các cửa hàng đóng cửa, công chức không đến Sở làm việc, học sinh, sinh viên trường công tư, công nhân, người buôn bán, xích lô... đến dự lễ truy điệu anh Ơn tại trường Petrus Ký. Sau đó trường mở cửa lại và nhà cầm quyền Pháp bãi bỏ chế độ nội trú của trường.Dãy lớp học ở Petrus Ký khoảng cuối thập niên 50
Muốn vào học trường Petrus Ký học sinh ưu tú của Saigon và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Petrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thị Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Petrus Ký. Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Ký. Ngày đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật trong không khí trang trọng.Lối vào chính ở trường ngày nay, bảng tên Petrus Trương Vĩnh Ký đã được che lại.
Học sinh Petrus Ký cũng chọc phá thầy cô, cũng đóng vai thứ ba học trò không khác gì những học trò các trường khác, nhưng chúng ta phải hãnh diện mà nói rằng cái phá hay cái đùa của học trò Petrus Ký có phần nào trí thức, ý nhị, và thông minh, chớ không quá quê mùa cục mịch, vô ý thức như một số học sinh các trường khác.Phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Các giáo sư được bổ nhiệm về trường Petrus Ký và một số các trường lớn khác ở Saigon thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Quý thầy đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian.
VĂN HOÀNG ÁNH NGUYỆT TÌNH MẸ TRONG THƠ TRẦN KIÊU BẠC
TÌNH MẸ TRONG THƠ TRẦN
KIÊU BẠC
Thành thật cám ơn nhà thơ Trần Kiêu Bạc
đã gởi tặng tập thơ “ Qua Dấu Bụi Thời Gian”. Tập thơ đến tay tôi vào một sáng
đầu xuân. Ngoài trời nắng đẹp, cây lá xanh tươi, hương hoa ban mai thoang thoảng
nhẹ đưa.Tôi là người yêu thơ nên đón nhận tập thơ với lòng hân hoan, trân trọng.
Tôi hân hạnh với món quà tinh thần quý giá mà tác giả đã gởi tặng mình.
Lần dở những trang thơ, tập thơ trình bày đẹp,
trang nhã, nhất là hình bìa Dòng Sông Con Đò, sắc màu thân quen, hình ảnh đã
làm ta thấy lại quê hương. Thứ tình mà mọi người tha hương đều rất trân trọng.
Đây là một thi phẩm chứa nhiều kỷ niệm.
Tất cả là những bài thơ hay, đậm đà tình cảm về Mẹ, về gia đình, lời lẽ trong
sáng, bình dị, tâm tư của tác giả rất chân thật, rất phong phú, tha thiết với
quê hương với bạn bè, với nguồn rung cảm chân thành của một tâm hồn nghệ sĩ,
thêm vào đó lời thơ diễn đạt rất nghệ thuật, mỗi bài thơ mang âm hưởng của nhạc,
của những cung bậc với giai điệu khi cao khi trầm, cùng ăn nhịp với lòng ta, vần
điệu phóng khoáng, những cảm xúc, những ray rứt lẫn xót xa, tạo ra bao vần thơ
thật trang nhã và cảm động. Tôi rất tâm đắt và rất ngưỡng mộ. Tôi lại càng sững
sờ và ngạc nhiên lẫn khâm phục về bài viết thay lời bạt của Nguyễn Thị Mỹ Châu
hiền nội của tác giả quả là xuất sắc.
Đặc biệt nhất về thơ của Trần Kiêu Bạc.
Tác giả đã dành hầu hết những bài thơ nhắc về “Mẹ”. Mẹ là dáng dấp quê hương, là
bóng mát, là những kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu. Tác giả khắc họa tình cảm nhớ
thương sâu sắc, chân thành và thiết tha, mặn nồng, không sao có thể quên được về
người Mẹ đã quá cố. Những bài sau khi đọc tôi thật xúc động và rất cảm mến tác
giả, bài nào cũng làm tôi ngậm ngùi.
Đọc “Qua Dấu Bụi Thời Gian” đã có
trong tôi cái cảm khái. Tôi không phải là người bình thơ. Nhưng trong những bài
thơ hầu hết đều có một nỗi niềm và tôi cũng tìm thấy nét gần gủi, tôi mạn phép
xin nêu vài nhận xét tiêu biểu một số bài thơ với tiếng khóc âm thầm của người
con dè dặt, kín đáo ấy , viết dành riêng để tưởng nhớ Mẹ mình, nó mới não lòng
làm sao!:
“Về thăm mồ Mẹ gió đong đưa
Mưa rớt lâm râm khoảng cuối mùa
Áo mỏng đơn sơ còn chưa ướt
Mà sao hai mắt dột đầy mưa?”
(Bài Tứ Tuyệt Thăm Mồ Mẹ trang 240)
Tôi xúc động mạnh theo những điều tác
giả diễn tả qua bài thơ Tứ Tuyệt Xa Mẹ. Phải chăng đó là biểu hiện của một
con tim đa cảm, lòng lưu luyến khi khuất xa đã tìm được những lời thơ rung cảm
một cách thấm thía. Trong cảm xúc của mình tác giả đã thể hiện:
“Cầm theo ve Nhị Thiên Đường
Dầu
còn phân nửa, tình thương Mẹ đầy
Xa quê đếm chuỗi ngày dài
Ve dầu nhỏ xíu giữ hoài bên lưng!”
(Bài Tứ Tuyệt Xa Mẹ, 1993 – trang 234)
Với tâm hồn nhạy cảm của thi nhân ,
anh tâm sự qua lời thơ chân thực mà xót xa:
“Xa lộ lạnh lùng phóng theo đường thẳng
Mà lòng con xa xứ chạy lanh quanh
Con bên này nhớ Mẹ bên kia
Như xa lộ thẳng đường không sao khác
Chiều nay nhớ nhà xe chở đầy hương Tết
Con chở theo mình mùi Mẹ đầu năm!”
(Mùi Mẹ Hương Tết - Trang 1)
Thơ là sự kết tinh ngôn ngữ có chọn lọc,
nhà thơ diễn đạt tư tưởng, tình cảm hết sức chân tình. Dù bao nhiêu tuổi đời đi
nữa mất Mẹ con cũng bơ vơ, với lòng yêu thương thành kính, tác giả đã viết bài
thơ “ Những Lằn Roi Của Mẹ” để nhớ Mẹ,
thèm Mẹ, thèm cây roi thơ ấu “ Roi vẫn
còn đây Mẹ vắng rồi”:
“Nhìn lên ảnh Mẹ những ngậm ngùi
Nhớ lằn roi nhẹ nhớ không nguôi
Con
vẫn đi theo đường Mẹ dẫn
Tạ ơn roi Mẹ giúp nên người
(Nhớ
Lằn Roi Của Mẹ - trang 2)
Những vần thơ đó đã làm cho người đọc
thật cảm động , trong thơ tác giả mang khá nhiều tâm sự, rất gần gủi, rất chân
thành, người giàu tình cảm thường nhớ về kỷ niệm, tuy những kỷ niệm nhỏ nhoi thời
thơ ấu, những lằn roi của Mẹ đã hằn sâu trong tâm khảm, những lằn roi nhẹ giúp
con nên người, mà nhớ không nguôi.
Mỗi bài thơ là mỗi phong cách, tiêu
biểu cho một khuynh hướng nội tâm, ẩn hiện đằng sau tâm trạng u buồn:
“Thượng tuần tháng Giêng trăng dẫn Mẹ đi
Đóa hồng đỏ trên ngực con hóa thành hoa
trắng
Vu Lan nầy trăng về trong mưa xám
Trăng trở lại một mình, hoa vẫn trắng
màu tang
Vu Lan nầy không về, mẹ ở tận nơi đâu?”
(Mùa Trăng Vu Lan Vẫn Biền Biệt Mẹ -
trang 3)
Anh đã cụ thể hóa trong ý thơ của
mình"Trăng dẫn Mẹ đi…Trăng trở lại một
mình…” Nỗi nhớ của anh càng sâu sắc.
Và tâm trạng buồn thương ấy đã luôn
luôn ám ảnh, những lời thơ Lạy Mẹ, dâng Mẹ não nuột đến vô cùng, tác giả nghẹn
ngào, “Khi nắm đất sau cùng lấp kín mộ sâu”… “ Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng”,
đọc bài “ Bài Thơ Dâng Mẹ” tôi không
khỏi cảm thương, không có thứ tình nào cao quý thiêng liêng bằng tình Mẹ, mất Mẹ
rồi “Quỳ
trước bàn thờ cam phận mồ côi” lời than của người con không còn Mẹ:
“Khi nắm đất sau cùng lấp kín mộ sâu
Con trở về nhà một mình trống vắng
Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng
Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi
…
Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng
Trong hương khói tìm đâu hình bóng Mẹ
Nửa đoạn đời sau trong miền dâu bể
Vẫn mang nặng hoài hai chữ mồ côi
Những lạy nầy xin dâng Mẹ, Mẹ ơi!”
(Bài
Thơ Dâng Mẹ - trang 4)
Nỗi buồn đã theo suốt cả đoạn đời
anh, anh sống với nó và hòa điệu thành sức sống của những lời thơ nhớ nhung “Bài thơ nầy viết riêng Mẹ thôi” tuyệt diệu,
diễn tả chân dung người Mẹ bằng những giọt lệ từ con tim thổn thức, cảm động biết
bao:
“Bài thơ nầy con viết riêng Mẹ thôi
…
Mưa bây giờ gợi nhớ lúc mưa xưa
Mưa quất mạnh lằn roi vào đời Mẹ
Những giọt mưa đau cướp đi tuổi trẻ
Những trận roi đời làm đời Mẹ mất niềm
vui
Bài thơ nầy con viết riêng Mẹ thôi…”
(Bài
Thơ Viết Riêng Cho Mẹ - trang 5)
Với tâm hồn đa cảm, hình ảnh người Mẹ
hiền là chất liệu tạo cảm xúc trong thơ, qua lời thơ lúc nhẹ nhàng lúc sầu não,
đêm vẫn đen vô cùng “Từ khi con mất Mẹ”
một nỗi mất mát to lớn “Còn cơn bão nào
không”… “Nỗi đau đớn ngậm ngùi”:
“Trong hư ảo khói nhang
Con nghe mùi của Mẹ
Mùi thơm ngày còn bé
Hương sữa Mẹ đầu đời
…
Mùi riêng Mẹ cho con!”
(Trong Hư Ảo Khói Nhang, Vẫn Còn Thơm
Mùi Mẹ - trang 6)
Nhà thơ cảm thấy trống trải quạnh
hiu, trông ngóng mỗi chiều chờ đợi Mẹ về, nhưng Mẹ đã xa cách ngàn trùng. Thấy
lá vàng rơi, một chiếc lá bay vô tình nào có phải Mẹ về thăm! Không phải Mẹ
đâu!:
“Chiều đợi Mẹ về! Không thấy Mẹ đâu!
Trông ngóng Mẹ ngày nầy qua ngày khác
Không có Mẹ lắm lần con đi lạc
Không ai dắt qua vũng xoáy cuộc đời
…
Chiều đợi Mẹ về! Chỉ thấy khói nhang!”
(Chiều Đợi Mẹ Về - trang 7)
Những lời thơ rung cảm về cuộc sống,
băn khuăn day dứt “Đêm Bên Ảnh Mẹ” quỳ
bên ảnh Mẹ mà thấy xa thật xa:
“…Mẹ
gần con tiếng khóc
Như
ngày con ra đời
Mẹ bây giờ cách biệt
Con bây giờ mồ côi…”
(Đêm Bên Ảnh Mẹ - trang 8)
Cái buồn thiên cổ, cái buồn gắn với đời
dĩ vãng xa xăm, nhiều câu nói lên cái buồn đều có ý nghĩa mênh mang thương tiếc
như thế, khi về với Mẹ sau nhiều năm xa biệt ở quê người, không có Mẹ kề bên “Loanh quanh trong khốn khó cuộc đời” “ Con tần ngần trước cửa Mẹ ơi” Nhưng hởi
ơi! Không thấy Mẹ đâu “Bếp Lạnh”:
“…Không thấy Mẹ đâu, Mẹ vắng rồi
Bếp lửa không ai khơi lửa ấm
Con về con khóc Mẹ không nguôi.”
(Bếp Lạnh - trang 9)
Trên tất cả tình cảm nhân loại, chỉ cần
nghe tiếng Mẹ , nói đến tình Mẹ là tim ta đã thấy rung động, đã thấy yêu thương
vô bến vô bờ. Nhưng đau khổ nhất là không còn Mẹ tác giả đã thể hiện tâm sự
trong cảm xúc của mình:
“…Đếm tay hơn bốn ngàn ngày
Mẹ ra đồng vắng nằm ngoài sương đêm
…
Mẹ ru con suốt đêm trường
Giờ con ru Mẹ qua hương khói mờ
Ngủ đi, Mẹ ngủ …ầu ơ!”
(Hát Ru Cho Mẹ - trang 10)
Bao nhiêu ấn tượng về Mẹ, mãi mãi còn
lưu lại trong trí tác giả, gợi nhớ hoài, lặng đi trong mơ tưởng đêm rồi chiêm
bao thấy Mẹ về:
“…Nhớ con lắm bận Mẹ về thăm
Trong những đêm mơ thấy Mẹ gần
Thật ra Mẹ cách xa ngàn dặm
Chiêm bao bóng Mẹ đến trăm năm.”
(Đêm Thấy Mẹ Về Thăm - trang 11)
Có những bài thơ cứ vương vấn trong
trí tôi mãi, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai lời tác giả “ Mẹ
ơi con thấy Mẹ hoài”…“Mẹ giờ
trong khói hương bay” vì những nỗi
nhớ thành thực của tác giả lúc nào cũng nghĩ “Mẹ vẫn mãi bên con”:
“…Mẹ ơi con thấy Mẹ hoài
Trong vần con đọc trong bài học xưa
Trong cơn gió chướng trái mùa
Trán con hâm nóng Mẹ ru thì thầm
…
Mẹ bên con những tháng ngày
Cho con hơi ấm gởi đầy tình thương
Mẹ không về giữa ngày thường
Đêm đêm con thấy trong sương Mẹ về.”
(Mẹ Vẫn Mãi Bên Con – trang 13)
Lại có khi suối buồn thương cứ tự trong
thâm tâm tuôn ra lai láng. Cám ơn người đã ghé thăm, tiếc đã trễ rồi… biết rằng
sự chia biệt là đau đớn, nhớ thương, mà nhất là nỗi đau thương tiếc “Nhà không còn Mẹ”:
“Cám ơn người đã ghé thăm Mẹ tôi
Tiếc đã trễ rồi, Mẹ tôi vừa mất
Trễ một chút thôi mà vườn cau thôi xanh
ngắt
Lá trầu trải vàng một sắc nhớ Mẹ xưa!
…
Mẹ không về, nhà bỗng hóa mênh mông
Nhưng không chứa hết lòng con nhớ Mẹ
Cám ơn người ghé qua đây dù đã trễ
Tiếc Mẹ không còn, nhà đã hoang vu!”
(Nhà Không Còn Mẹ - trang 14)
Vẫn một từ “Nhớ” dội lên, vẫn là cái
không gian quấn quyện, chan chứa trong một giai điệu ly biệt, nhớ nhung, nhớ
hoài bàn chân Mẹ, nhớ vầng trán nhăn và đôi mắt khô lệ…để rồi tác giả linh cảm
mình còn Mẹ qua đôi bàn chân, thật cảm động:
“Mẹ tôi đi rồi để lại dấu chân
Qua dấu ấy tôi nhớ hoài bàn chân Mẹ
Ngoài vầng trán nhăn và đôi mắt Người
khô lệ
Tôi linh cảm mình còn Mẹ qua đôi bàn
chân…”
(Bàn Chân Của Mẹ Tôi – trang 15)
Nhưng thương hay mến không đủ làm tan
nỗi bơ vơ, chỉ có tình Mẹ mới lấp được muôn một, bài thơ man mác, thấm thía
trong cái tê tái của một nét đau mộng và thực:
“Xe rẽ trái theo đường Valley Hi
Bỗng Mẹ hiện ra ngã tư đèn đỏ
Căng mắt, bậm môi cố nhìn cho rõ
Mẹ mất quê xa, sao đứng nơi nầy?
…
Cám ơn Valley Hi trong vài giây đèn đỏ
Cho gặp lại mình bên Mẹ, giữa Cali!”
(Cám Ơn Vài Giây Đèn Đỏ - trang 17)
Có lúc dường như tác giả không phân
biệt mộng mỗi khi viết những chuyện thực trong đời mình đều xen vào chuyện mộng,
cái mạch sầu vẫn ngấm ngầm trong cõi nhớ nầy:
“…Mẹ trong vùng chiêm bao
Một mình thăm cõi khác
Vẫn vội vàng chân đất
Trong cát bụi thênh thang…”
(Chiều Bên Mồ Mẹ - trang 18)
Cho nên tác giả thấy mình lạc giữa
mênh mông của đất trời “Mắt ngóng chờ từng cánh chim xa” cái xa vắng của
thời gian “ Trên nẻo ngược xuôi giữa cuộc đời”… “ Không có Mẹ không có gì để có” lời thơ vì thế buồn rười rượi:
“…Chiều nay về không chút mưa rơi
Mà lạnh lắm lòng con nhớ Mẹ
Đèn xanh không lên không ngại trễ
Sợ chờ hoài không thấy Mẹ đâu!”
(Ở Ngã Tư Nhớ Mẹ - trang 19)
Viết về cuộc đời bút pháp của tác giả
nghiêm nhặt mà xúc động, xót xa. Nhưng ở đoạn thơ nào của tác giả cũng hiện lên
hình ảnh Mẹ, cho nên ý thơ là sự giải thích, là tình cảm rất riêng tư, “Đêm nhớ Má, tự nhiên con thèm khóc”:
“Thèm như thèm kẹo thuở mới lên ba
Nhưng nước mắt bây giờ khô đâu hết
Còn lại mưa pha lẫn giọt nhớ nhà
Giờ muốn khóc, tự nhiên con thèm khóc
Khóc một đêm rồi xa Má muôn đời!”
(Tự Nhiên Thèm Khóc – trang 24)
Hình ảnh “Núi” vốn vô tri trở thành đối
tượng để tác giả tâm tình, để miêu tả, hiện lên trong bài thơ “Núi Khóc” . Bài thơ như mở ra trước mắt
ta một không gian mênh mang, giúp ta hình dung,
cảm nhận: núi mồ côi, cõi trời mây gió, cánh chim lạc bầy, con nai nhỏ
xa đàn… hòa quyện thành bức tranh thiên nhiên, đẹp đẽ, có linh hồn. Làm tôi muốn
đọc đi đọc lại để tận hưởng hết khả năng diễn tả, “bài thơ dành cho những người con mất Mẹ đang khóc Mẹ và buồn cô đơn như
núi”:
“Tưởng đá cứng không bao giờ đá khóc
Nghĩ núi cao không ướt mắt bao giờ
Nhưng Mẹ đi không bao giờ được gặp
Đá núi buồn nước mắt chảy thành mưa.”
(Núi Khóc – trang 25)
“Hôm
nay ngày giỗ Má con buồn lắm” tác giả nhớ ngày giỗ Mẹ mà chan hòa nước mắt. Thật không có nỗi đau nào bằng nỗi
đau không còn Mẹ, Mẹ mất rồi “Xa lắm con
về đâu còn kịp” “Trăm điều đã trể nói Má nghe” thật cảm động:
“Hôm nay giỗ Má con buồn lắm
Một chút khói hương gởi quê nhà
Má đi trong cõi xa ngàn dặm
Xin về cho ấm đứa con xa…”
(Giỗ Má – trang 26)
Bao giờ tác giả cũng nghĩ về quá khứ,
về kỷ niệm, những nỗi đau thương nhung nhớ, nghe nhói tim khi tác giả mở phong
thư đứa em út gởi qua năm sợi tóc khô của Má, những bài thơ về Mẹ của tác giả
làm cho tôi bồi hồi thổn thức, cảm động và âm thầm kính cẩn:
“Mở lại phong thư quê nhà đã lâu
Nghe nhói tim như có nguồn điện giật
Đứa em út gởi qua năm sợi tóc
Lượm trên gối mềm lúc Má ra đi
…
Nhìn tóc khô buồn nhớ Má không nguôi!”
(Những Sợi Tóc Khô Của Má trang 28)
Đọc xong thi phẩm “Qua Dấu Bụi Thời
Gian” tôi có cảm giác thơ của Trần Kiêu Bạc quả có hồn. Một bài thơ hay dầu nhẹ
nhàng vui vẻ, dầu sầu não thương đau, bao giờ cũng là sự giải thoát. Giải thoát
ra khỏi cái buồn đau, để sống trong sự thanh thản cho tâm hồn…Cứ để lòng trôi
theo cái âm hưởng đặc biệt của bài thơ. Mặc dù có cách hiểu này khác, nhưng với
riêng tôi “Qua Dấu Buị Thời Gian” vẫn mãi là thế giới trong thơ Trần Kiêu Bạc,
thực lẫn mộng, là một thế giới huyền diệu có cả
nỗi buồn, thương nhớ, lẫn khát vọng. Lời thơ chân thành mà thanh âm êm đềm
của nó luôn làm rung động, xao xuyến tâm hồn người đọc, những bài thơ tươi sáng,
tuy nhiên lại mang đậm nét buồn. Nỗi buồn khó quên và thấm thía. Đó là nét đặc
trưng của nhà thơ Trần Kiêu Bạc.
Khi tôi cầm bút viết bài nầy thì văng
vẵng bên tai tôi bài Lòng Mẹ của Y Vân với giọng ca ngọt ngào ai oán của Hưong
Lan, đưa sang từ nhà bên cạnh “Lòng Mẹ
bao la như biển Thái Bình dạt dào…” Mỗi lần nghe là lòng tôi thấy bồn chồn,
thương cảm cho tác giả cũng như cho những người con mất Mẹ, đang khóc Mẹ…
Ngày nào còn con người với những buồn
vui mất mát, đau khổ lẫn ước mơ, ngày đó tiếng thơ Trần Kiêu Bạc còn mãi ngân
vang.
Hoàng
Ánh Nguyệt
(San Jose 2014)
:www.aihuubienhoa.com
Subscribe to:
Posts (Atom)



