TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Monday, July 18, 2022

THƯ GỬI CON GÁI - CHẬP CHỜN CƠN MÊ - DƯƠNG QUÂN

Thư gửi con gái DUONG QUAN

 

                                                         Lời Cuối. Thư viết cho con gái

 

Con thương yêu Dương Thị An Xuyên

Con gái đầu lòng cưng quý của ba.

Tháng 9 năm 2003, khi ba vừa hoàn tất bản thảo tập thơ này thì con đột ngột ra đi.
duong quan 2

 

Tuổi đời của ba năm nay đã ngoài 60 . Ba đã nếm trải biết bao nhiêu khổ đau chồng chất muộn phiền kể từ sau năm 1975 oan nghiệt.

Những nhọc nhằn đói lạnh cơ cực 8 năm tù cải tạo ngoài rừng núi miền bắc xa xôi. Thái độ bạc bẽo rẻ khinh của dòng họ gia đình ruột thịt không còn chút tình nghĩa khi ba ra tù. Những tháng ngày ba lang thang khắp các ngõ hẻm, phố phường, làm đủ các nghề vất vả để kiếm sống. Mất sự nghiệp, mất tương lai, mất nhà cửa, mất của cải, ba chỉ biết nhìn hai chị em con quằn quại lớn lên trong bất hạnh giữa một xã hội đảo điên. Tất cả những tình cảnh ấy đã bủa vây cuộc đời ba từng phút từng giờ kéo dài 15 – 20 năm não nề.

Vậy mà ba vẫn chịu đựng được. Vậy mà ba không gục ngã và đã vượt qua

 

Nhưng tin con đột ngột ra đi đã làm cho ba sụp đổ tất cả. Mọi vật như phủ trùm đen tối, hụt hẫng quanh ba.

 

Tại sao có thể như vậy được ? Tại sao như vậy? Con ơi! Con gái của ba tha thiết mỹ miều. Con gái của ba xinh đẹp,duyên dáng Con gái của ba dịu dàng, hiền thục.  Con gái của ba nhẫn nại, cần kiệm.  Con gái của ba trinh trắng, hiếu hạnh, đoan trang.

 

Con gái của ba có đủ tất cả những đức tính trân quý của một nàng tiên diệu hiền là vàng, ngọc, kim cương… là sự hài lòng, là nơi tin cậy – là mật – là đường, là gia bảo của ba.

Vậy mà ba đã mất. Vậy mà ba đã mất con.

 

Con bị bệnh đúng một năm trời, ba đã tận tụy chạy chữa cho con bằng những phương tiện tốt nhất , bằng những loại thuốc quý nhất, bằng khả năng cao nhất của ba . Con đã thuyên giảm, phục hồi 80% sinh hoạt bình thường. Nhưng con lại trở bệnh chỉ trong vòng một tuần lễ, con phải bỏ ba, bỏ mẹ, bỏ em …

Những giây phút cuối cùng của con bên cạnh mẹ, trong bệnh viện, con tỉnh táo, dịu dàng và thanh thản. Nhưng con cứ nhắc đi nhắc lại lời cuối niềm mong ước của con:

“Con rất muốn gặp ba, con rất muốn gặp ba, ba ơi! “ Rồi con buông xuôi.

Con của ba: Dương Thị An Xuyên

Con vẫn hằng hài lòng với cái tên ba đã đặt cho con ”Dòng sông yên tĩnh” địa danh ba đã đến đó làm việc, từ Học viện Quốc gia Hành Chánh, bước chân đầu đời, hy vọng đầu đời, ba gửi gắm cho con.

 

Những kỷ niệm về con vẫn còn đầy ắp trong ký ức của ba. Con được chào đời trong sự mong đợi, nâng niu của ba và mẹ.

Rồi con lớn dần.

Ba khắc chiều cao của con vào gốc cột nhà để thấy con lớn lên từng tháng, từng năm.

Con vào mẫu giáo. Mẹ cột tóc đuôi ngựa cho con. Tay con ôm cặp, tay xách bình mực… con tung tăng mỗi sáng ba đưa con đến trường.

 

Có khi ba chở con về thăm nội dưới quê. Cha con mình chơi trò “trốn kiếm” trong vườn cây trái rộng mênh mông. Con kiếm ba không được, con tần ngần đứng khóc. Ba chạy lại ôm con vào lòng, nước mắt rưng rưng – mà rạng rỡ nụ cười.

 

Buổi chiều, xe trở về thành phố. Hoa quỳnh anh nở đầy hai bên đường. Con hối hả kéo tay ba: Ba ơi bông đẹp quá ba hái cho con đi.

Ba dừng xe lại, hái hoa cho con. Con giắt hoa xung quanh xe – trên cửa – trên mui . Xe vào thành phố, người thành phố lấy làm lạ nhìn con ngồi trong chiếc xe hoa vàng rực. Con vui lắm, mắt con long lanh.

 

Rồi năm 1975, ba bị ở tù. Mẹ cũng ở tù. Chị em con chạy về với ngoại. Nhưng lợi dụng lúc chị em con không mẹ, không cha – bà ngoại đã chủ mưu để cho cậu, dì của con sang đoạt nhà cửa của cải của ba mẹ xong rồi – bà ngoại đuổi hai chị em con ra gốc cây đứng khóc mỗi đêm.

 

Năm ấy, con chỉ là đứa con gái hơn 10 tuổi con đã một mình lặn lội tìm về bên nội trên đường quê hơn 70 cây số để nhờ các cô, chú giúp đỡ. Và mọi người đã từ chối, ngoảnh mặt đi.

 

Thư con đã viết cho ba sau này, con kể:

Khi bên nội từ chối lời khấn cầu giúp đỡ chị em con, trên đường trở về nhà, đi qua dòng sông Cát Lái , khi chiếc phà chạy giữa dòng sông rộng mênh mông, con muốn trầm mình tự tử cho rồi. Nhưng nghĩ lại, con còn một đứa em… lúc hai chị em không mẹ, không cha.

 

Con đã sống như thế nào trong khi những bữa ăn của chị em con chỉ là ”… một tô cháo, hai cái muỗng, hai chị em …” như con đã kể trong từng tháng, từng ngày.

Con đã sống như thế nào trong hoàn cảnh ấy, để lây lất cho đến khi mẹ ra tù, cho đến khi ba ra tù.

 

Đã bao lần toan thôi học, nhưng con cũng cố gắng gượng bám ghế nhà trường. Nghỉ hè, hai chị em con, mỗi đứa cầm một cây kẹp sắt, dẫn nhau đi bưới các đống rác để lượm bịt ni lông, đem bán để kiếm tiền cho niên học tới.

 

Ngày trước, cậu Tư, cậu Bảy, dì Út của con ở chung nhà với ba mẹ, được ba mẹ bảo bọc cho học hành – vui chơi – tưởng họ lớn lên thành người, nào ngờ sau năm 1975, họ lớn lên thành “người vượn”. Vậy thì làm sao họ còn biết nhân nghĩa giúp lại hai đứa cháu mình trong cơn khốn khổ cùng cực – mà ngược lại, chính họ là những kẻ đã đoạt nhà, cướp của cải của ba mẹ còn sớm hơn kẻ thù.

 

Nhưng chị em con đã kiên trì đẩy lùi được sự dốt nát, để sau cùng, với sự tiếp sức của ba, con đã được học hành đỗ đạt. Con đã trưởng thành. Con đã là một thiếu nữ xinh đẹp, một sinh viên thông minh.

 

Con đã khoe với ba: ”đề án tốt nghiệp của con đã được giáo sư bảo trợ chấm điểm 10+ ‘ – để khi nếu có bạn học nào cùng khóa được điểm 10 – con vẫn đỗ thủ khoa “.

 

Con gái của ba chẳng những không đầu hàng nghịch cảnh mà còn chứng tỏ nghị lực phi thường trong một thân thể ốm yếu, mỏng manh.

Nhưng con vẫn hằng chập chờn nỗi sợ hãi mỗi lần nhắc lại giai đoạn 1975-1990 – 15 năm ấy – như một đêm dài rùng rợn cho gia đình mình.

 

Con nhắc trong thư viết cho ba:

Ba thương kính của con ơi: ”Những ngày tháng ba ở tù ra, ba về sống bên ông bà nội, vừa để chăm sóc ông nội bệnh, vừa cuốc đất làm rẫy, trồng rau. Ngày trước, ba khỏe mạnh cứng cỏi, ở tù ra, giờ này ba ốm đi, chỉ còn 39 kg. Mỗi lần chị em con về nội để thăm ba, chiều tối, ba xách thùng ra giếng múc nước cho chị em con tắm – con đứng nhìn ba gầy ốm, đen đúa lại xách thùng nước nặng. Ba bước đi như vẹo một bên. Con thấy tội nghiệp ba quá, nhưng sao trong lòng con lại thấy sung sướng vì biết rằng ba thương chị em con nhiều lắm”.

 

Rồi thư khác còn lại kể:

” Ba ơi! Con nhớ ba, con máng cái áo 4 túi của ba ngày xưa, trong tủ quần áo của con, để mỗi lần con mở tủ ra … thấy cái áo, con nhớ ba .

“Ba ơi ! Mỹ và Việt Nam xa nhau nửa vòng trái đất . Như dẫu cho mấy vòng trái đất, con vẫn nhớ , vẫn thương ba”

 

Con viết cho ba – con viết nhiều lắm dường như là để tổng kết một cuộc đời mà ngày nay ba mới chợt hiểu – mà trước đây ba chỉ thấy rằng – ba hài lòng có đứa con gái đầu lòng hiếu hạnh, ngoan hiền.

 

Ba đã từng khẳng định với con rằng:

Nếu có ai đó lập được một danh sách những người cha thương con nhất trên đời này, thì ba là người đứng đầu danh sách ấy “.

 

Con đã từng biết thế nào là khổ là nghèo qua tuổi thơ của con – nên con là tấm gương cần kiệm, nhẫn nại, chịu đựng hi sinh, nhường mọi ưu tiên cho em con. Sự thành công của em con ngày hôm nay để nó hãnh diện với đời, một phần lớn là do con đóng góp – từ lúc con thay ba mẹ dẫn em vào trường học – buổi học đầu đời – cho đến khi nó thành người lớn khôn ngoan xã hội.

 

Con đã từng biết thế nào là kẻ không nhà.

Chính ba cũng không hơn gì hai chị em con. Ngày 26 tết năm 1984 gia đình bên nội, do cô Tám đứng đầu đã đuổi ba ra khỏi nhà ông nội, sau vài tháng ba ở tù ra, về nương náu ở đó. Ai biết được ba đi về đâu, làm gì phải sống ra sao trong những ngày thiên hạ lo đón Tết. Các cô chú của con cũng hài lòng về việc ấy lắm vì sự có mặt của ba ở nhà nội sẽ là trở ngại cho việc chia chác của thừa kế sau này. Họ lên tiếng không nhìn nhận ba là người trong số anh chị em của họ nữa.

Ngày trước, ba là ngôi sao sáng của gia đình, là niềm hãnh diện, là điểm tựa của mọi người. Khi ba ngã ngựa xuống rồi, các cô, chú đạp lên đời ba cho ba ngã gục.

Xã hội đảo điên – người cải tạo ra về, có người được gia đình nâng đỡ, đùm bọc, có người bị gia đình xem còn thua con chó hoang ngoài đường. Ba thuộc về trường hợp sau.

 

Chính con không quên cái cảnh ba đạp xe đạp đường dài 70 km từ quê nội về nhà ngoại thăm chị em con. Tối đến, ba phải treo cái võng trước hàng hiên ngoài nhà mà ngủ. Thân thể gầy ốm của ba lúc đó không đủ làm mồi cho lũ muỗi đói qua đêm, chỉ nằm thao thức tủi thân, nghe mưa nhỏ giọt tí tách từ trên cây vú sữa tạt ướt chiếc võng ba nằm. Trong nhà ấy, trước đây là nhà của ba mẹ, đã bị bà ngoại sắp xếp sang đoạt cho dì Út của con. Cái giường của ba mẹ nằm ngày xưa, bây giờ dì Út và dượng Út con nằm.

 

Nên vậy, ba quyết tâm không quản ngại cực khổ nhọc nhằn, làm lục vất vả để tạo lại cho chị em con một căn nhà.

 

Khi có được căn nhà, con vui mừng và quý trọng biết mấy. Con đã kỹ lưỡng lau chùi từng viên gạch, cẩn thận chăm sóc từng cánh cửa, tấm màn, vun quén từng chậu hoa, cây kiểng.

 

Và ba đã tạo ra cái giường cho con nằm, tấm mền cho con đắp trong căn phòng đẹp nhất cho trưởng nữ của ba.

Ba đã có quần áo đẹp cho con mặc, có xe tốt cho con đi. Ba đã có tiền cho chị em con cất trong nhà. Con lại tiếp tục học thêm những gì cần học, và em con lại học cao hơn.

Ba đã trồng cây nguyệt quế bên cửa sổ sau nhà để đêm đêm thoang thoảng hương đưa. Ba đã dầm mưa trồng từng cây xoan xung quanh nhà. Sau này những hàng cây xoan cao lớn, mỗi mùa hoa xoan nở – hoa xoan rụng, con quét lá xoan – con nhớ ba đã cần cù dốc lòng bù đắp cho chị em con những ngày khốn cùng, cơ cực .

 

Mười mấy năm ba xa nhà, ông nội mất. Bà nội mất. Ba đã gửi tiền về cho con để lo giỗ ông bà nội, gửi tiền sửa nhà thờ ông bà, gửi tiền cho con đem về tặng các cô. Tặng bạc trăm đô la, các cô chê ít, các cô muốn ba gửi bạc ngàn, hay chục ngàn để các cô làm giàu ở không đi chơi và chia chác vườn đất của ông bà nội để lại đem bán, rồi tranh giành nhau.

 

Ba đã nhắc nhở chị em con vui chơi, mua sắm, hưởng thụ để bù lại những năm tháng cùng cực đói nghèo. Vậy mà lúc này là lúc con không cần những thứ ấy nữa.

Tại sao như vậy hả con, Tại sao như vậy hả con. Tại sao?

 

Ba chỉ có hai đứa con, như người có hai tay, hai mắt … Giờ đây, ba như một thân thể tật nguyền, quằn quại với nỗi lòng tột cùng đau khổ.

Con yêu thương của ba: Dương Thị An Xuyên.

duong quan

 

Có phải con là một nàng tiên trên trời đầu thai xuống làm con của ba, để cho mọi người nhìn thấy cách sống, cách cư xử phải giữ đức tính tốt đẹp của con mà lấy làm tấm gương cho cuộc sống.

 

Có phải kiếp trước ba thiếu nợ con – nên kiếp này con gặp ba để đòi nợ ? Khi ba đã trả xong nợ cho con, thì con vội vã ra đi. Không ai biết con về đâu, làm gì, ra sao… Nhưng con đã để lại trong lòng mọi người vô vàn đau đớn, tiếc thương .

 

Vanitas, Vanitatum.

 

Người ta nói “cát vụi trở về cát bụi” . Ba không tin như vậy. Con không từ cát bụi mà ra. Con là tinh hoa của sự yêu thương, trìu mến. Con cũng không trở về cát bụi. Nhưng con về đâu? Cõi vô biên mù mịt ? – quanh đây hay thăm thẳm phương nào?


Mới đây thôi – giờ thì con ở nơi đâu? Con ở Châu Á, con ở châu Âu, Châu Phi hay Châu Úc… nơi nào ba còn có thể tìm con được. Nhưng tình thế này ba biết tìm con nơi đâu .

 

Ba đã khóc với bác Trí. Ba đã khóc với bác Danh. Ba đã khóc với những người quen đến thăm ba để an ủi ba khi biết ba vừa mất con. Ba đã khóc nghẹn ngào lúc ba ăn, ba đã khóc âm thầm lúc ba ngủ, lúc ba làm việc, lúc ba lái xe. Ba đã khóc với bao nhiêu nước mắt ràn rụa… giờ tre lại khóc măng.

 

Có khi ba tưởng tượng con đang ngồi cạnh ba và nói thật nhẹ: “Ba ơi, con gái của ba đây nè!”. Có lúc ba đang làm việc, ba tưởng chừng con đang đứng chập chờn đâu đó mà nhìn ba. Ba bước đi ngoài sân, một cơn gió nhẹ thoảng qua làm cho chiếc lá khô xào xạc, ba tưởng chừng như bước chân của con.

 

Có đêm trong giấc ngủ, ba tìm con trên vùng trời thăm thẳm bao la. Ba bay qua trong mênh mông mờ mịt và nghe tiếng hát văng vảng thánh thót vang vọng trong không gian … một bầy tiên nữ bay qua, từng cô tiên trẻ có đôi cánh xanh lơ … bỗng ba nhìn thấy con cũng là một cô tiên với đôi cánh vừa bay vừa hát. Con bay ngang qua ba và gọi: ”Ba ơi! Con đây nè ba, ba kính thương của con …” và con bay mất vào không gian mờ mịt, mênh mông…

 

Không thể tìm.  Mãi mãi ba không thể tìm con.  Vĩnh viễn con đã xa ba…

 

Tập thơ này là chuyện vui chơi giữa ba và các bác – bạn của ba – con và em đã giúp ba tìm tòi trong sách vở cũ sao chép lại những bài thơ ngày trước , gửi cho ba. Có bài con đánh trên computer, có bài con chép tay. Nét chữ con còn đây, hình ảnh con còn đây. Ai đã cắt ruột của ba, làm cho ba đau, ba khóc, cũng không bằng ba thương tiếc con đã biến mất về đâu .

 

Tập thơ này là chuyện vui chơi giữa ba và các bạn – giờ đây lại in dấu ấn nỗi đau đớn tột cùng của ba, tưởng chừng không chịu được nổi. Bao nhiêu khổ đau đã chồng chất lên cuộc đời ba kể từ năm 1975. Giờ ba ở xứ người, ba phải gượng đi bằng hai chân già nua hay phải sụm xuống hở con. Ngày trước ba đã từng dạy chị em con rằng: ”trên đường đời con bước, nếu có bị vấp ngã, thì hãy đứng lên suýt soa rồi tiếp tục đi tới, không được dừng lại, không được than đau.” Nay ba và em con cũng phải làm như vậy .

 

Mấy năm gần đây phải kể từ khi ba lên tuổi 60, hàng năm đến ngày sinh nhật ba, dù cho cha con xa nhau nửa vòng trái đất, chị em con vẫn nhớ mua nến hồng, hoa quả, viết rằng: mừng ba lên tuổi thọ …” chụp hình gửi cho ba xem. Rồi đây, đến sinh nhật ba những năm tới, chỉ còn em con một mình ngồi đó – nửa phần nhớ cha , nửa phần nhớ chị. Con có trở về với em con ngày ấy hay không?

Tập thơ này vậy khi được in xong, ba hứa sẽ dành quyền đầu tiên để tặng cho con. Ba sẽ đặt hai chiếc ghế bên mấy cụm hoa trước nhà ba đang ở. Một cái ba ngồi, một cái cho con. Ba sẽ thắp ngọn bạch lạp chập chờn và đốt từng trang thơ … để cho con… đọc . Trang thơ cháy thành tro tàn mà thương nhớ con không thể phai tàn .

Ba sẽ thì thầm gọi tên con: Dương Thị An Xuyên

 

Mãi mãi ba sẽ gọi tên con.

Và không bao giờ ba muốn nói hai tiếng vĩnh biệt đâu con.

 

Ba của con

Đầu năm 2004.

 

DƯƠNG QUÂN 




Saturday, July 16, 2022

HỘI AN - TRUYỆN NGẮN -HỒ XUÂN NGỌC



    HỒ XUÂN NGỌC 1973 ( Em trai Út )






HỘI AN (會 安)
2005
 
Cứ mỗi lần định tọa mông xuống ghế cho đỡ mõi, thì y như rằng chiếc xe lại tuôn qua những ổ gà nằm sắp lớp trên mặt lộ, làm dội bắn cả người. Suốt đoạn đường dài ngót ngàn cây số từ Sài Gòn ra Hội An, chưa bao giờ tôi được an tọa một cách thoải mái quá hai giây...rưỡi. Cứ nhỏm lên ngồi xuống. Lại nhỏm lên...như thể đang cỡi trên lưng con tuấn mã vượt ngàn dặm sơn khê về quê...vợ.
Thật đấy. Hội An là quê của bà xã tôi. Tôi gặp bã ở đó rồi cột chặt đời mình với bã, cùng những thương nhớ nồng nàn cho phố Hội. Cũng vì sự thiết tha, nôn nóng muốn nhìn lại nơi chốn đầy kỷ niệm của ngày xưa, sau hai mươi mấy năm lìa xa, nên tôi tạm quên đi những dằn xốc trên con đường thăm thẳm dợn sóng đầy ổ gà.
Cứ mỗi lần xe nhồi lên thì anh tài xế lại hỏi: "Mệt chưa? Hay ta ngừng lại nghỉ một chút nhé!" Rồi nhìn tôi với vẻ ái ngại, như thể anh đang thay mặt cho con đường mà xin lỗi tôi vậy. Có lần, như để chửa thẹn, anh lại nói đùa: "Nếu đếm những chỗ lồi lõm, cộng thêm ổ gà lớn nhỏ trên đường từ Sài Gòn ra Hội An, thì chắc cũng nhiều bằng sao trên trời anh nhỉ!" Theo tôi, anh đùa có hơi quá đáng. Có lẽ một nửa thì chính xác hơn.
Từ ngã ba Vĩnh Điện vào Hội An, con đường còn tệ hơn. Chiếc xe 12 chỗ ngồi như muốn rã ra từng mảnh, khi trường qua những ổ...voi to tướng trên mặt đường. Không phải chỉ riêng tôi bị chúi dập đầu vào băng ghế trước, mà cả cái máy quay phim cũng hờn dỗi nhảy bộp xuống sàn xe. Cũng may, con đường không dài lắm và ngã ba Tiểu Khu đã thấy trước mặt kia rồi.
Tôi đến Hội An đúng 9 giờ sáng sau một ngày đêm dong ruổi. Thật khó mà tả được cái cảm xúc bồi hồi lúc đặt bước chân đầu tiên lên lề đường Lê Lợi. Tôi giương to lồng ngực hít một hơi đầy ắp cái không khí Hội An thân thương vào buồng phổi mà nghe đã từng thớ thịt. Định...hít thêm vài cái nữa, thì anh Lương, chủ khách sạn Thanh Bình bên kia đường, đã phóng vụt qua như ánh điện xẹt kéo tay tôi vào khách sạn.
Ba chục đô một đêm. Cũng không tệ cho một nơi nghỉ ngơi sạch sẽ khang trang và thân tình. ngay đường phố chính Lê Lợi. Nơi, chỉ cần bước ra sẽ thấy ngay một Hội An nhộn nhịp trải dài trên đường Lê Lợi đến tận bờ sông Thu Bồn. Hãy nghe anh Lương, nhà kinh doanh trẻ tuổi của phố Hội, người không bao giờ phí phạm một giây để chụp những cơ hội làm giàu (như đã chụp tay tôi lúc vừa xuống xe), tâm sự:
-Hội An mình chừ vui lắm! Nhờ khách du lịch vô đông nên đời sống thoải mái hơn xưa. Trước đây vui nhất là đường Cường Để (đã đổi thành Trần Phú). Chừ Lê Lợi lại là nơi đông đúc buôn bán sầm uất nhất thị xã. Xí nữa trời tối, anh ra trước khách sạn sẽ thấy những sinh hoạt rất dễ thương của Hội An về đêm.
Thật vậy, khi đêm xuống, Hội An không thiếu những ánh đèn màu. Trên mấy giàn bông Giấy đã nở rộ trước cửa những căn nhà dọc theo bờ sông Thu Bồn, dãy đèn màu nhấp nháy chen kẽ giữa những khóm hoa đỏ thắm, tô điểm thêm sắc thái dịu dàng cho những dãy bàn ghế sắp dài bên vệ đường. Từng nhóm, từng nhóm du khách nước ngoài nhàn du hớp từng ngụm bia, lim dim tận hưởng luồng gió mát mơn nhẹ từ mặt sông Thu Bồn lấp lánh, diễm ảo dưới ánh đèn. Và, nếu có một vầng trăng, thì bức tranh đêm của phố Hội, bên dòng sông Thu Bồn, sẽ không có bức mực nào có thể tả hết sự tuyệt mỹ của nó
Đêm đầu tiên ở Hội An, tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn kê sát bờ sông. Uống một ly nước mía thật ngon ở nơi chốn đầy dẫy những kỹ niệm thiết tha và nhìn về một góc phố. Nơi ấy, ngày xưa, đã có lần tôi đứng đợi người tình trăm năm dưới cơn mưa lũ.
Gần ba mươi năm rồi đấy! Tôi đâu ngờ lại rời xa chốn này lâu đến thế? Nhưng cũng may, thành phố vẫn còn đây, vẫn vậy, cùng dòng sông Hoài (Thu Bồn) lưu luyến, để tôi còn có một nơi chốn tìm lại kỷ niệm ngày xưa, dù đã rất xa.
Nhờ số lượng du khách đỗ vào đều đặn, sinh hoạt của phố Hội thay đổi hẳn trong mấy năm gần đây. Ngoài những tiệm ăn, giải khát, tiệm bán tranh ảnh, khách sạn nở rộ, Hội An còn có thêm một vài nghề khác, như: nghề...cò, nghề OK sa lem. Trước hết, xin nói sơ về nghề cò. Cò có nghĩa là cò mồi. Mấy tay này hễ thấy khách du lịch đi ngơ ngáo trên đường là xáp lá cà tán hưu tán vượng. Khách vào tiệm ăn thì cò cũng theo vào ra tuồng là người hướng dẫn viên. Rồi sau đó xin chủ quán cho tiền huê hồng dẫn khách. Số lượng cò ở Hội An không nhiều, cũng khó kiếm ăn, vì phố nhỏ ai nấy đã nhẵn mặt khó quậy. Nhưng tựu chung, cũng kiếm được ngày hai bữa.
Chính tôi cũng bị một anh cò bu theo cả nửa ngày mà không biết. Cứ ngỡ anh ta là bà con bên bà xã tôi. Chẳng là lúc tôi đang ngồi ăn Cao Lầu ở đường Cường Để (bây giờ là Trần Phú) thì một anh xồn xồn bước vô kéo ghế ngồi kế bên nói chuyện rất thân thiết. Hội An là phố nhỏ, ai cũng có thể là bà con. Tôi nghĩ chắc anh ta là người thân xa bên vợ. Hỏi mấy câu về gia đình bà xã tôi, anh đều trả lời rành rọt. Nghĩ bụng cũng mừng, vừa gặp bà con, vừa có người trò chuyện đỡ buồn. Suốt nửa buổi, đi đâu anh cũng theo kề sát bên rất tương đắc. Khi tới bờ sông, tôi mướn chiếc ghe để dạo một vòng trên sông Thu Bồn cho mát thì anh không theo nữa. Mời mấy cũng từ chối nại cớ có chuyện phải đi gấp, hẹn tối gặp lại. Ghe chở tôi quanh một vòng Cẩm Nam rồi cặp về bến gần chợ cá. Lúc trả tiền, chủ ghe hỏi:
-cái thèng hồi nãy là boạn của cậu hử?
Tôi trả lời:
-không phải đâu bác. Ảnh là bà con bên vợ cháu.
-Vợ cậu là con của ai?
-Dạ, con ông Hụi tiệm thuốc Hoà Xương Đường...
Chủ ghe lắc đầu, nói:
-Rứa cậu bị hén gạt rồi. Tui cũng bị hén gạt lun.
Tôi ngạc nhiên:
-Ủa! Sao vậy bác?
-Tui ở đây mấy chục năm. Gia đình mô trên phố tui cũng biết hết. Hồi xưa nhà vợ cậu chưa dọn xuống Sài Gòn, tui tới mua thuốc của ông Hụi hoài. Gia đình ông Hụi là người Hoa. Mô có bà con chi với cái thèng quỉ nớ. Hén quê Tiên Phước, đói quá xuống phố làm nghề cò kiếm en. Vậy mà hén nói hén bạn của cậu, dẫn cậu tới giới thiệu đi ghe của tui, làm tui phải chung cho hén hết hưa chục phần trem. Thiệt đúng là cái thèng trời đánh. Tổ choa hén.
Đó là nghề cò. Còn nghề OK Salem thì dễ thương và tội nghiệp hơn. Nguyên chữ "OK Salem" dùng để chỉ những đứa trẻ chạy theo các người lính Mỹ để xin kẹo và tiền, lúc quân đội Hoa Kỳ còn đóng ở miền Nam. Ngày nay, Hội An mượn lại để đặt tên cho một nhóm thiếu nhi con nhà nghèo, sau giờ học, la cà bu quanh du khách gạ bán những tấm bưu thiếp in hình thắng cảnh, đi tích của Hội An. Nghề này một vốn mười lời. Tôi hỏi Thanh, cậu bé mười hai tuổi có gương mặt sáng sủa với nụ cười thân thiện rất...Hội An, lúc em đang cố dụ tôi mua sấp hình chùa Cầu.
-Em bán một ngày được bao nhiêu?
Thanh ngần ngừ giây lát xong trả lời:
-Có khi được vài Đô. Có khi chẳng được đồng mô.
-Những tấm hình này em lấy ở đâu?
Thanh cười:
-Sau giờ học, em lên ty Văn Hoá lấy đi bán. Bán được thì về trả tiền vốn lại cho ty.
So với cò, các em OK Salem này dễ thương hơn nhiều. Không sạo sự. Không lừa bịp. Tất cả dựa trên sự trao đổi thẳng thắn. Vừa lòng người bán, vui lòng người mua.
Trước khi về Hội An, cô em vợ tôi dặn: "Nhớ phải tới phở Liến làm vài tô. Rẻ lắm! Chỉ hai chục cents thôi. Nhưng ngon đáo để." Từ khách sạn Thanh Bình đi bộ tới phở Liến chỉ hơn trăm thước.
Tôi nhớ, hồi xưa cửa phở Liến thông ra con hẻm vô quán cà phê Chanh. Bây giờ, cửa chính lại hướng ra đường Lê Lợi. Sự đổi hướng này có lẽ mang lại nhiều tài lợi nên phở Liến rất đông khách. Mùi phở thơm tho với hương vị đặc biệt theo khẩu vị của người dân xứ Quảng. Không nơi nào bạn có thể tìm ra một bát phở mà gia vị phụ tùng lại có kèm theo vài lát đu đủ sống ngâm dấm đường. Nước phở bùi, bánh phở dai mềm, miếng thịt bò tươi kèm theo cái dòn rụm của lát đu đủ sống. Bởi vậy, làm sao mà tôi không tốn sáu chục cents cho ba tô phở chứ?
Không phải chỉ có phở tôi mới ăn đến ba tô, mà cả bún bò, cơm gà, cao lầu...thứ gì cũng phải ăn từ ba tô, ba dĩa trở lên mới hả cơn...thèm. Cũng đừng quên món bánh ích tro, bánh đậu xanh, mà khi ăn phải...đẩn cả chục cái mới đã.
Nếu bạn phải vất vả, ê ẩm suốt một ngày đêm ngồi xe ra tận Hội An như tôi, thì sự bồi dưỡng về món ăn ngon của phố Hội cũng đủ bồi đắp cho nỗi cực nhọc đó rồi. Đấy là chưa nói đến những di tích lịch sử nổi tiếng, không những trong nước mà ngay cả ở ngoại quốc cũng biết đến. Một trong những đi tích lừng danh của phố Hội là chùa Cầu.
Theo sử liệu thì chùa Cầu khởi công xây năm 1593, mãi đến năm 1597 mới hoàn tất. Chùa Cầu là một sự hoà hợp tuyệt vời giữa ba cấu trúc văn hoá mỹ thuật hiếm có của Nhật-Việt-Hoa. Tuy đã trải qua hơn bốn trăm năm trơ gan cùng tuế nguyệt, chùa Cầu vẫn hiện ngang bền bĩ giữ trọn vẹn những đường nét hoa mỹ đặc thù, cùng sự bí ẩn về đôi chó đá và cặp tượng khỉ đặt hai bên đầu cầu. Điều mà mãi đến bây giờ, người dân phố cỗ và các nhà khảo cỗ vẫn chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng về ý nghĩa của bốn tượng đá này.
Hồi đó, khi mới vào Hội An, tối nào tôi cũng thả bộ băng qua chùa Cầu. Tuổi trẻ thích long bong lêu bêu dạo phố đêm. Có lần sụp chân xuống cầu vì dẫm phải mảnh ván mục sướt cả đầu gối. Bây giờ, mỗi khi nhìn lại vết sẹo nhỏ ở chân, tôi hay gọi đùa là "vết sẹo chùa Cầu." Cũng là một kỷ niệm để nhớ mãi về một Hội An rất đằm thắm trong quá khứ.
Về Hội An mà chẳng xuống cửa Đại tắm biển là một thiếu sót không thể tha thứ được. So với hai bãi biển nổi tiếng Nha Trang và Vũng Tàu, thì biển cửa Đại ở Hội An trội hơn cả. Mặt biển xanh. Nước thật trong. Bãi cát lài lài ra tận ngoài xa, lội ra cả trăm thước mà nước vẫn không sâu qúa ngực. Sóng không lớn cuốn vào bãi cát nông, tạo nên nhiều đợi sóng nhỏ trắng xoá, đẹp mắt.
Nằm ngã người trên chiếc ghế xếp dưới chòi dừa dọc theo bãi cát. Uống một chai bia lạnh. Ăn một miếng mực luộc chấm nước mắm ớt. Bạn sẽ quên hết mọi phiền muộn trên đời. Mà, có khi, lại còn có thể quên cả chính bạn nữa. Hãy phóng tầm mắt xa hơn chút nữa ra khơi, bạn sẽ nhìn thấy một cù lao Chàm hùng tráng ẩn hiện trên mặt biển. Tủ rừng thông xanh mướt nối liền với bãi cát mịn vàng, kéo theo màu biếc của biển cùng cù lao Chàm. Qủa thật, tạo hoá đã dựng nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ rất tuyệt vời.
Trong mục đích bảo tồn di tích, Hôi An đã nhận được sự giúp đỡ tài chánh từ nước ngoài để tu bổ, sửa chửa những hư hỏng kiến trúc của phố thị. Tu bổ, sửa chữa chứ không được thay đổi hình dạng cấu trúc của nhà phố. Do đó, cho dù bạn có rời xa phố Hội vài mươi năm đi nữa, thì khi trở lại, Hội An vẫn chung thủy giữ dùm bạn từng góc phố, từng ngôi nhà thân quen, như thể bạn chưa hề rời xa nơi này đã quá lâu như vậy.
Sự chung thủy gắn bó của phố Hội có thể chứng minh bằng chính những vết tích kỷ niệm của từng người, của bạn, của tôi. Như hồi xưa lúc mới bị bà xã...cua, tối tối tôi hay ngồi đợi bả trên bực thềm xi măng ở bờ sông. Có lần bả cho tôi leo cây, không ra chổ hẹn, giận quá tôi đập cục gạch xuống bực thềm làm mẻ một miếng lớn. Chuyến này về lại chỗ "nớ" thấy vết bể vẫn còn, chỉ khác là hơi bự hơn một chút, làm tôi xúc động đứng lặng cả người. Rồi, cả tấm bảng hiệu Hoà Xương Đường (和 昌 堂) của nhà bà xã tôi mấy chục năm trước, vẫn còn treo trên lan can ở căn nhà bên đường Nguyễn Thái Học. Tại phố chính không thay đổi, nhưng nếu đi một chút ra ngoại vi sẽ thấy sự chuyển mình đáng kể của phố Hội. Chẳng hạn như: khu sân banh, xóm Mới, bến xe...nhà lầu mọc lên rất nhiều theo mức độ tăng trưởng của dân số chung quanh thị xã. Riêng con đường về Cẩm Châu xuống cửa Đại thì khỏi nói, nhà cửa san sát liền nhau, biến một Cẩm Châu buồn tẻ của quá khứ thành khu nhộn nhịp cả ngày lẫn đêm. Ban đêm, muốn xuống biển chơi, nếu không phải dân bản địa, chớ có dại mà tự lái Honda, nếu bạn chẳng gẩy cổ ở một ổ gà nào đó trên đường, thì cũng bị cán...bẹp bởi một trong những chiếc Honda của mấy tay yên hùng Cẩm Châu bất cần luật lệ. Chính tôi đã thử rồi và mãi đến giờ nghĩ lại vẫn còn...rùng mình.
Hàng ngày, bạn muốn biết những tin tức nóng hổi đang xảy ra ở Hội An? Khỏi cần đọc báo. Khỏi cần đi xa. Cứ tới quán cà phê đối diện khách sạn Thanh Bình trên đường Lê Lợi, nơi tụ tập của những tay chơi long bong phố Hội, họ sẽ truyền khẩu cho bạn nghe mọi tin nóng sốt. Từ Honda cán chó đến những mối tình vụng trộm; từ cuộc đánh ghen hào hứng của bà X bên xóm Mới đến vụ anh Y giựt hụi vì thua bài. Thậm chí cả số đề số đuôi cũng rôm rả lời bàn.
Khi bản tin miệng buổi sáng chấm dứt theo những ly cà phê đã cạn sạch, bạn có thể bước xéo qua đường mướn đỡ chiếc Honda của anh T với giá hai đô một giờ. Nhưng cũng đừng quên cảnh giác cái đồng hồ rất... nịnh chủ của anh T lúc nào cũng chạy nhanh hơn đồng hồ của bạn đến một...tiếng. Riêng tôi, mỗi lần bị anh T tính thêm giờ, tôi lại nhắc khéo về cái đồng hồ thổ tả đó, thì y như rằng, anh lại đánh trống lảng mà kể cho tôi nghe thêm một sự tích khác nữa về ngôi...chùa Cầu
Tôi ra vườn Ương ngoài bến xe tìm nhà một người bạn cũ. Cảnh trí nơi đây đã thay đổi rất nhiều. Ngôi nhà của bạn tôi một thời được xem là rất đẹp trong vùng, giờ đây trông thảm hại cũ kỹ, nép mình giữa những căn lầu đúc tân kỳ bao quanh. Gặp một ông già mặt hao hao giống thằng bạn đang ngồi ngoài thềm cửa, tôi gật đầu chào:
-Thưa bác, đây có phải nhà anh Hiếu?
Ông già chăm chú nhìn tôi rồi đứng lên nhăn hàm răng đã di tản gần hết ra cười:
-Ngọc hả? Tao...Hiếu đây. Hong phải ông già tao mô.
Ngày tháng trôi nhanh. Mọi việc, mọi sự trên đời đều đổi thay theo năm tháng. Nhưng Khuôn mặt của bạn tôi lại bị thời gian bạc đãi quá tàn nhẫn, đến nỗi tôi không còn nhận ra chính nó. Nắm bàn tay gầy guộc của Hiếu, tôi hỏi nó về cuộc sống. Hiếu ngậm ngùi:
-Giải phóng xong tao nghỉ học. Ở nhà đôi năm cuộc sống đã khó khăn nhiều. Nghe lời rủ của mấy thằng bạn, tao lên Tiên Phước tìm vàng. Rừng thiên nước độc, vàng đào không thấy, mắc thêm bịnh sốt rét. Tao về lại đây sống lây lất qua ngày.
-Sinh hoạt của mày giờ ra sao?
-Cũng tương đối ổn định.
-Vợ con gì chưa?
Hiếu cười buồn:
-Mi nghĩ có người nào chịu sống đời với một ông già xấu xí bịnh tật như tao sao?
Nỗi thất vọng về tương lai và cuộc sống đã biến Hiếu thành một người bi quan cùng cực. Hồi chúng tôi còn học chung phân khoa Luật ngoài Huế, trong nhóm bạn bè, Hiếu là người sáng giá nhất. Đẹp trai, học giỏi, con nhà khá giả, ăn nói duyên dáng, lịch sự. Lúc nào cũng có cả khối các cô nữ sinh Đồng Khánh Huế hâm mộ. Quả thật, thời gian đã quá vô tình và tàn nhẫn với một người rất dễ thương như Hiếu.
Buổi chiều, một ngày trước khi rời Hội An, tôi mướn chiếc xe đạp rảo một vòng quanh xóm Mới, qua sân Vận Động, ghé lại trường Trần Quí Cáp, thăm lại nơi tôi đã miệt mài suốt niên học của lớp đệ nhất (12). Lúc đạp xe đến trước cổng trường thì trời đã sâm sẩm tối. Ngôi trường vắng vẻ cũng buồn như cái hoàng hôn đang chết dần theo màn đêm. Tôi đứng ngoài vòng rào cố tìm lại lớp học của mình ngày xưa, nhưng bóng tối đã không thương tình mà che cả tầm nhìn bằng một màu đen sền sệt dễ ghét. Đành quay xe về hướng khác mà lòng rất buồn.
Ghé lại chùa Nam Tôn như một tình cờ không định trước. Thắp nén hương. Uống một tách trà nóng. Nói dăm câu chuyện cùng thầy trụ trì. Rồi, cũng với một cảm giác rất muộn phiền rời chùa về lại phố. Đạp xe suốt con đường Nguyễn Thái Học thiếu ánh điện, vắng cả bóng người đi. Dãy phố đêm với những khung cửa gài kín, im lìm như phố chết. Nguyễn Thái Học không còn là lộ trình của một thời nhộn nhịp, một thời lê gót, một thời đứng đợi...em trong mưa của tôi ngày xưa. Tất cả, còn lại, chỉ là những ký ức rất buồn rầu trên con đường nhạt nhoè, cô đơn giữa hai hàng phố vắng.
Ghé vào trường Lễ Nghĩa. Khoảng sân sáng rực ánh đèn với sự tranh tài hào hứng của những tay hảo thủ vũ cầu phố Hội. Ngồi một chút để cổ võ tinh thần cho những tay vợt trẻ. Cũng gọi là rất vui và đáng khâm phục cho những người trẻ yêu chuộng thể thao. Dù cuộc sống khó khăn, trường Lễ Nghĩa vẫn cố khắc phục tổ chức thường xuyên các giải tranh đua truyền thống.
Từ Lễ Nghĩa lại đạp xe xuống chợ. Chợ đã tàn từ sẩm tối, giờ chỉ còn lại những lều sạp trống rỗng. Cố luồn xuyên qua từng dãy sạp vắng tối mù ra tận bến cá. Gió sông mát rượi. Nghe như có giọng hò đâu đó vẳng lại bên kia sông. Cây cầu nối qua Cẩm Nam mất nhịp chỉ còn trơ lại chân trụ như một dấu tích rất muộn phiền của quá khứ. Thiếu một nhịp cầu, Cẩm Nam như rất gần mà cũng rất xa. Cũng may, tôi chẳng có nguổi yêu bên nớ, nếu không thì đã lỡ chuyến đò cuối qua sông đêm nay.
Đạp dọc theo đường Bạch Đằng. Những dãy bàn bên mé sông vẫn còn đông khách với từng chùm đèn màu nhấp nháy rọi sáng một quãng đường rất lãng mạn của Hội An về đêm. Dừng lại mua gói thuốc, gặp Hùng Anh, thằng bạn học ngày xưa ở lớp đệ nhị (11) trường Bồ Đề. Vẫn dáng cao dong dỏng
gầy gầy và vẻ mặt bất cần đời. Hùng Anh kéo tôi về nhà. Căn nhà dài thăm thẳm từ Bạch Đằng thông ra tận đường Nguyễn Thái Học. Hắn lôi tôi lên lầu ra phòng rộng phiá trước, nơi vợ chồng nó và ba đứa con quây quần thành một mái gia đình rất hạnh phúc, bình dị. Tách trà Mai Hạc khởi đầu cho những hàn huyên, những gợi nhớ vui buồn trong quá khứ. Kỷ niệm cũ cứ như chẵng bao giờ kể hết. Về ngôi trường. Về thầy cô. Về bạn bè lưu lạc mười phương. Về những ngang tàn phá phách của tuổi mới lớn và về những buổi tối uống rượu nếp ở bờ sông An Hội. Tất cả được dàn trải theo nỗi ngậm ngùi luyến tiếc của một thời rất đẹp, rất nhớ.
Lúc từ giả, Hùng Anh buồn buồn nắm tay tôi như chưa muốn rời. Tôi đi mà không ngoái đầu nhìn lại. Gió đêm thật mát nhưng khó mà nguôi được nỗi rầu rĩ ở trong lòng. Đến gần cuối đường, dựng chiếc xe đạp vào cột điện, tần ngần nhìn cây cầu ngắn nối qua An Hội. Dưới ánh đèn vàng vọt, chiếc cầu vắng cũng buồn thảm như lòng tôi. Bên kia, dưới bầu trời lẻ loi những vì sao, cả An Hội đã chìm vào giấc ngủ. Chợt muốn bước qua cầu mà lòng vẫn ngập ngừng. Rồi sẽ tìm thấy gì giữa bóng tối quạnh quẽ bên kia bờ? Tai bỗng nghe âm thanh rất quen thuộc của tiếng nước vỗ vào chân cầu. Hình ảnh chiếc cầu. Nước reo nhè nhẹ theo ngọn gió thoảng trên mặt sông. Tất cả, tất cả chợt như ở một ngày nào đang hớp từng ngụm rượu nếp thơm nồng tại bến sông này.
Có phải gần ba mươi năm đã qua? Có phải thời gian đã trôi nhanh đến thế? Có phải tôi chưa hề rời khỏi chốn này trong suốt một phần đời? Có phải tôi vưà tỉnh dậy sau giấc mộng ngắn từ cơn say? Và, có phải tôi vẫn là tôi của những ngày rất xa đang dệt mơ ước nơi này bên bến sông đêm?
Dắt chiếc xe đạp thả bộ mươi bước thì cùng đường. Quẹo phải lên đoạn dốc ngắn đã thấy chùa Cầu. Đứng lặng một chút để ngắm chiếc cầu lừng danh nối liền Cẩm Phô và phố Hội. Bất giác, lại nhớ đến vết sẹo ở chân và mảnh ván mục trên cầu. Vết sẹo vẫn chưa mờ, chẳng biết mảnh ván gẫy có còn không? Ngồi giữa cầu, tay vuốt ve từng thanh gỗ, mảnh ván dưới chân. Nghe mùi hương ai thắp bên chân tượng chó đá như một gợi nhớ rất nổng nàn. Nước vẫn róc rách chãy dưới chân cầu. Mùi bùn non. Mùi cỏ đêm. Thật hạnh phúc khi tôi tìm lại được tất cả những thân nhớ này. Đêm tàn dần vẫn cứ muốn ngồi lại mãi một mình trong bóng tối. Phải chăng tôi vẫn còn đang chờ đợi một điều gì mình đã quên?
Một ông già đạp xe đến giữa cầu. Thấy tôi, ông đột ngột dừng lại, hỏi:
-đứa mô rứa? Răng giờ ni còn đứng ở đây?
Tôi đứng lên đáp:
-Dạ! Cháu ở xa về thăm phố. Ngồi chơi một lát rồi về.
Ông già định tiếp tục đạp xe đi, nhưng không biết nghĩ sao lại ngần ngừ rồi dựng xe bước lại gần nheo mắt hỏi:
-Mi nói giọng miền Nam giống cái thèng...thèng chi mô quên mất rồi hè?
Tôi cười. Cũng chợt nhận ra ông:
-Bác có phải là bác Bốn bên Cẩm Phô không?
Ông già ngập ngừng:
-Phải...phải. À...tao nhớ ra rồi! Mi là thèng Ngọc bạn của Xuân cháu bác phải không?
Tôi gật đầu. Bác Bốn nắm tay tôi lắc mạnh mừng rở:
-Về bao chừ? Răng không ghé thăm bác?
Lời nói chân thành của ông khiến tôi lặng đi giây lát.
-Cháu có hỏi thăm. Nhưng mấy người bạn nói Xuân không còn ở đây. Cháu tưởng bác cũng dọn về Đà Nẵng rồi.
Bác Bốn trách:
-Mi thiệt tệ quá! Bác vẫn ở đây đâu có đi mô.
Tôi tệ thật. Nhìn mái tóc bạc trắng cùng gương mặt hiền lành già nua của bác Bốn mờ nhạt trong bóng tối bỗng thấy chạnh lòng. Nhớ hồi còn đi học, mỗi khi tan trường Xuân thường rũ tôi về nhà bác Bốn đàn đúm hát hò, bày binh bố trận, phá làng phá xóm, phá luôn giấc ngủ trưa của bác mà bác chả bao giờ quở trách. Lúc nào bác cũng đối xử với tụi tôi rất tử tế, giống như con cháu trong nhà, dù Xuân chỉ là đứa cháu họ xa, được cha mẹ gửi gấm ở trọ nhà bác.
Có lần, bác được ai tặng cho chai rượu quí, cất mãi trên bàn thờ tổ tiên không dám uống. Một hôm, tôi và Xuân đem bình rượu xuống uống sạch. Đến khi phát giác ra tụi tôi là thủ phạm, bác chỉ ôn tồn nói: "Bác không vợ không con. Có tụi mi thêm vui cửa vui nhà. Nhưng phá chi thì phá. Chơi chi thì chơi. Phải ráng học cho nên người." Những lời nói chân thành mộc mạc của bác như còn văng vẳng bên tai, mà sao tôi lại tệ thế? Lại chẳng nhớ gì về một bác Bốn dễ thương bên Cẩm Phô để mà ghé thăm?
Tôi nắm lấy bàn tay chai cứng của bác Bốn mà nghe dạt dào những thương mến. Đúng là tôi đã có một linh cảm khi cố ngồi lại trên cầu để chờ đợi điều gì. Chắc là cuộc gặp gỡ này. Là bác Bốn. Là những kỷ niệm tôi đã bỏ quên trong căn nhà nhỏ của bác bên Cẩm Phô. Của những ngày mưa dầm, tôi, Xuân, và Hùng Tây ngồi trên bộ ván ở hiện nhà bác Bốn, ăn bánh tráng ướt chấm mắm cá uống rượu Nếp. Rồi khi đã ngà say, tôi lại đệm đàn để Hùng Tây và Xuân nức nở những bản tình ca ngoại quốc làm đứt từng khúc... ruột của các cô gái ngây thơ Cẩm Phô.
Tôi kéo bác Bốn ngồi xuống bục ván cạnh lan can. Chỉ mong đêm dài mãi để mà tâm sự, mà nhắc lại từng kỳ niệm và những chặng đời đã qua. Kỷ niệm nào chẳng có buồn vui? Nhưng vui hay buồn gì thì cũng gượng nở nụ cười để mà che dấu đi cái cảm xúc bồi hồi luyến tiếc. Cũng như lúc chia tay cùng bác Bốn, vẫn gượng nỡ nụ cười mà nhìn theo cho đến khi hình dáng cô đơn, gầy gò của bác đạp xe xuống cầu khuất hẳn vào màn sương. Mong bác hiểu cho vì sao tôi không theo bác ghé lại một lần nơi căn nhà cũ để uống cùng bác chung trà. Tôi sợ mình sẽ phải đau lòng hơn khi nhìn thấy sự lẻ loi hiu quạnh của bác, trong căn nhà đã chẳng còn gì...không còn ai...
Tôi quay về phố. Đạp xe thật chậm theo chiếc bóng ưu phiền của chính mình trải dài trên mặt đường. Sương khuya lạnh lắm, nhưng vẫn muốn đêm hãy còn dài để được đi suốt những con đường còn lại của phố Hội. Bởi vì mai này, mai này biết tôi còn giữ được lời hứa trở về thăm phố, hay dòng đời lại cứ đưa đẩy đi xa mãi nơi này?
Tôi rời Hội An buổi sáng sớm khi trời còn mù sương. Một phút đứng lặng nhìn thành phố vẫn yên ngủ mà nghe lòng man mác nỗi buồn. Tuy không sinh ra và lớn lên nơi thành phố này, nhưng tôi đã gửi lại đây một phần đời rất đẹp, dù ngắn ngủi, của tuổi mới lớn. Đã yêu mến từng con đường, từng góc phố, từng mái nhà rêu cổ cùng dòng sông Thu Bồn hiền hoà và một người con gái rất đẹp của phố Hội. Mai này, cho dù có xa tận phương nào, tôi vẫn nhớ về một Hội An như đã nhớ rất nhiều trong đời, vẫn giữ mãi một Hội An đằm thắm trong tim như gìn giữ hình ảnh người tình chung thủy muôn đời.
Nhất định, nhất định tôi sẽ về lại...

Hồ Xuân Ngọc. 
2005

Thursday, July 14, 2022

LỤC BÁT LÃNG DU - THƠ DƯƠNG QUÂN


thơ Dương Quân 2

        LỤC BÁT LÃNG DU 
 
 
      Ta đang quét lá cửa Thiền 
Lượm câu lục bát lòng miên man buồn 
      Bỗng dưng ta nhớ về Nguồn...
Hỏi trăng tiền sử Càn Khôn mấy tầng?
 
      Ngắm câu lục bát ngại ngần 
Cất vào túi áo cho gần trái tim 
     "Má ơi! con vịt chết chìm"*(cd)
Hỏi người triết lý cửa Thiền nghĩ sao?
 
      Rằng: Về gom chữ ca dao 
Đốt rừng Nho, Lão tìm vào hư không 
      Tự nhiên rất mực tâm đồng 
Như câu lục bát, vợ chồng đủ đôi. 
 
      Ta đi về phía chân trời 
Hỏi vầng dương có ai ngồi ngâm thơ?
      Hoang đường từ thuở ban sơ 
Vì đâu lục bát bốn mùa lãng du. 
 
 
Dương Quân



Tuesday, July 12, 2022

ĐỒI GIÓ THOẢNG - THƠ DƯƠNG QUÂN

DOI GIO THOANG



         ĐỒI GIÓ THOẢNG
             Zephyrhills


Em ạ !
Anh đã về đây: Đồi Gió Thoảng
Báo tin em biết, để em mừng
Cũng đầy trăng gió, đầy hoa lá
Và bóng mây ngàn rớt trước sân


Có thể nơi đây là điểm cuối
Đường đời anh đến trạm dừng chân
Đợi con tàu suốt anh về đất
Bỏ lại gian nan, bỏ cõi trần


Căn phòng lạnh lẽo đầy tơ nhện
Người trước đã rời đi rất lâu
Giường nệm xông mùi tanh ẩm mốc
Chiếc bàn loang lổ cạnh chân cầu


Nhưng được là- cây lá rất xanh
Rừng xưa còn giữ nét nguyên sinh
Con sư tử núi thường hay đến
Dáng dấp xem ra cũng hữu tình


Sư tử cũng hiền- đâu có dữ
Người đời thường gieo tiếng thị phi
Thế gian lắm kẻ còn hung hiểm
Chưa chắc nhân tâm tốt đẹp gì


Tiếng chim ríu rít trên cành rậm
Chắc cũng mừng vui khách mới về
Khách cũng hân hoan vì tiếng hót
Để bù cho lúc tủi thân đi


Em ạ !
Rồi anh sẽ ở đây
Làm quen với cảnh vật nơi này
Chỉ mong còn mấy ngày thanh thản
Xoá bớt phiền lo cũ nặng nề


Anh sẽ nhủ mình, nén nhớ thương
Và quên mau những chuyện đau buồn
Quên người ích kỷ, tình khinh bạc
Tre trúc kia, lòng cũng trống trơn


Tre trúc tâm hư mà tiết trực
Sá gì em nhỉ ? chuyến rong chơi
Được-thua-thành-bại đều vô nghĩa
Ta hãy bình tâm nở nụ cười

Và mỗi đêm về trong lẻ loi 
Mình anh ngồi ngắm ánh trăng vơi 
Nhớ em tình cũ dù chưa trọn
Mà vẫn còn vương suốt cả đời 


           Dương Quân
               6.22