Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo kaki…
TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT
TRĂNG VIỄN XỨ
Trăng treo ảo ảnh biên đình
Trăng soi lữ khách độc hành viễn du
Trăng thề hẹn bến tương tư
Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người
(Dương Quân)
Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT
Friday, April 16, 2021
THƯƠNG TIẾC NGƯỜI PHI CÔNG TRẺ - HOÀNG ÁNH NGUYỆT
Thương Tiếc Người Phi Công Trẻ
Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo kaki…
Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Anh, em trai hầu hết là quân nhân. Chồng tôi, Hoàng Ngọc Thái Đại Úy Công Binh, anh Hai Thiếu Tá Pháo Binh, anh Ba Chiến Tranh Tâm Lý, em thứ Năm Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Công Binh, em thứ Sáu Trung Sĩ Pháo Binh, và em thứ Bảy Trung Úy Không Quân. Tất cả những quân nhân trong gia đình đã chiến đấu hào hùng vì lý tưởng, chính nghĩa Quốc Gia, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho một Tổ Quốc Tự Do toàn vẹn.
Năm 1967, Em tôi, Hồ Xuân Đạt, khi vừa đậu xong bằng tú tài II, dù vẫn được hoãn dich vì lý do học vấn, vẫn tình nguyện lên đường theo tiếng gọi của non sông. Em đã xếp áo thư sinh, Từ giã học đường, gia đình, bạn bè…gởi lại sau lưng những kỷ niệm, những ước mơ thật đẹp, thật hồn nhiên của tuổi mới lớn.
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, em được chọn vào ngành Không Quân và được gửi đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi công trực thăng (Helicopter) tại tiểu bang Texas Hoa Kỳ.
Năm 1970, khi tốt nghiệp em về lại Việt Nam, phục vụ tại phi trường Biên Hòa thuộc Sư Đoàn III Không Quân QLVNCH. Ngay chính nơi chôn nhau cắt rún của mình.
Bằng Lái Máy Bay
Hai năm sau, vì nhu cầu chiến trường, em nhận lệnh thuyên chuyển ra vùng I chiến thuật, công tác tại phi trường Đà Nẵng rất gần với đơn vị của chồng tôi. Khi ấy, chồng tôi, đại úy Hoàng Ngọc Thái, đại đội trưởng đại đội Biệt Lập 127 Cầu Nổi.
Hàng tuần vào những ngày nghỉ, em hay về nhà tôi chơi trong khu cư xá Phước Tường Đà Nẵng. Chị em có nhiều dịp gần gũi nhau hơn. Em hay kể cho tôi nghe về những chuyến bay tác chiến, những phi vụ tiếp tế và tải thương tại chiến trường về đêm đầy những hiểm nguy mà em tham dự. Về những người lính can đảm đã anh dũng chiến đấu, đã hy sinh bỏ mình cho tổ quốc.
Chiến tranh vẫn tiếp diễn và em tôi, vẫn hằng đêm thực hiện những phi vụ hiểm nguy để yểm trợ, sát cánh cùng chiến hữu các đơn vị để chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.
Tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tin tức địch quân sắp chiếm Đà Nẵng làm dân chúng xôn xao, hỗn loạn tìm đường thoát chạy. Trong khu cư xá sĩ quan của Liên Đoàn 8 Công Binh, tôi không làm sao liên lạc được với chồng vì anh đang phải cấm trại tại đơn vị. Vừa lo lắng cho chồng, vừa lo cho Đạt em tôi, vừa lo cho chính bản thân mình và các con. Sau này nghĩ lại, thời gian ấy thật sự đáng sợ và kinh khủng nhất trong đời tôi.
Bỗng nhiên một buổi sáng trước ngày Đà Nẵng thất thủ, Đạt lái trực thăng đáp xuống khoảng sân rộng trước nhà tôi ở khu cư xá sĩ quan Công Binh Phước Tường. Khi bước vào nhà gặp tôi, trông em có vẻ căng thẳng và lo lắng. Em nói “Chị và các cháu chuẩn bi sẵn sàng. Em sẽ trở lại đón vào phi trường tìm đường về Sàigòn càng sớm càng tốt”. Nói xong, em quay lưng bước vội về chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy ngoài sân. Trước khi cất cánh, em nhìn tôi rồi gượng nở nụ cười qua khung cửa gió của con tàu.. Tôi không bao giờ ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Đạt. Cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nụ cười của em tôi. Một nụ cười buồn, rất buồn. Bởi, em chẳng bao giờ trở lại đón tôi như lời đã hứa.
Ngày 29/03/1975 Đà Nẵng thất thủ.
Ngày 05/05/1975 với nhiều vất vả, khổ cực, tôi một mình dìu dắt bốn đứa con nheo nhóc từ Đà Nẵng về nhà mẹ ở Sàigòn. Về đến nhà Mẹ thì mới hay Thái, ông xã tôi, đã có mặt ở nhà Mẹ cả tháng, vì nghĩ rằng chú các cháu ( trung uý phi công Hoàng Ngọc Thịnh lái A37 không Quân QLVNCH) đưa vợ con vào phi trường Đà Nẵng về Sài Gòn trước rồi, nên trong lúc thất thủ anh cũng vất vả tìm cách về Sài Gòn, anh có ngờ đâu vợ con anh còn kẹt lại Đà Nẵng. Bỏ ăn, bỏ ngủ với thân hình tiều tụy, vì nhớ thương vợ con, anh đã không từ một xác trôi nổi nào được tấp vào bất cứ bãi biển, bến tàu nào anh cũng tìm đến nhìn mặt xem có phải vợ con mình không, anh lang thang khắp nơi như người mất hồn.Tôi cũng không gặp được anh vì anh đã đi ngược ra Đà Nẵng tìm vợ con sau một tháng trời mất liên lạc. Giữa đường anh bị bắt, bị bịt mắt còng tay ra sau lưng, bị dẫn độ đi ngày đêm trong rừng sâu, và từ đó anh bặt tăm, một lần nữa tôi lại đi tìm chồng, không biết địch có để cho anh sống hay chúng đã giết anh rồi…Nhưng may mắn anh còn sống. Tôi đã gặp anh và anh đang bị tù mãi tận trong núi Kỳ Sơn Quãng Nam…
Ngày tháng trôi qua cả nhà tôi lại tiếp tục đi tìm em trai Đạt, hết trại tập trung này đến trại cải tạo kia, vẫn không nơi nào có tên em, cứ tưởng Đạt bay đi được ra khỏi Việt Nam và đang tị nạn ở Hoa Kỳ, Canada hay một nước nào đó trên thế giới, không ngờ đến tháng 11/1975 một anh quân nhân VNCH cùng đi trên chuyến bay định mệnh, sau khi máy bay bị bắn rớt, anh bị bắt đi tù gần 8 tháng về kể lại:
Máy bay cất cánh vội vàng với số lượng quá tải, cũng cố cất cánh bay cao rời khỏi phi trường Đà Nẵng với bao nhiêu người trên chuyến bay định mệnh trong những giờ phút mà đạn pháo quân thù bay ra xối xả, Đạt có ngờ đâu đó là phi vụ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp…
Khi phi cơ bay qua vùng Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định thì bị một loạt mưa đạn AK của địch từ phía dưới bắn lên nhắm ngay buồng lái, Đạt bị trúng thương, người phi công nữa vào thay cũng bị bắn, trong lúc Đạt bị bắn trọng thương anh lính đã chăm sóc, Đạt biết mình không thể sống, nên đọc địa chỉ nhờ nhắn tin về nhà, cả hai phi công đều tử nạn, chiếc trực thăng không người lái, bay chúi xuống ruộng, sát chân núi. Những người trên chuyến bay còn sống đã bị địch bắt…
Vẫn giữ lời, sau khi ra tù anh quân nhân tốt bụng, đã tìm đến tận nhà báo tin về chiếc phi cơ của Đạt bị địch bắn và rơi xuống vùng Bồng Sơn (Bình Định) ngày 27/03/1975 như tôi đã kể trên. Và chỉ rõ địa điểm máy bay lâm nạn.
Quá bất ngờ lẫn đau sót và vô cùng bối rối, và cũng vì anh lính vội vã về gia đình nên anh lính chỉ báo tin cho biết và đi ngay, cả nhà tôi nghe tin sét đánh, đã lặng người, không còn nghe thấy gì, không còn nhớ tên anh lính cũng như địa chỉ hay quê quán nơi anh cư ngụ…
Theo lời anh lính chỉ đường, tôi và Má tôi đi xe đò ra Bồng Sơn, mặc dù không rành đường, nhưng khi xe chạy gần đến nơi tôi linh tính như có ai dẫn đường, tôi kêu xe ngừng lại đúng ngay địa điểm chiếc máy bay vẫn còn nằm dưới đám ruộng tuốt trong xa, gần chân núi, chỉ cần sơ ý xe chạy lướt qua, coi như không thể tìm thấy.
Xuống xe quan sát, tôi nhìn thấy ngay nấm mộ đất dưới bờ ruộng, sát lề đường QL.I. ,không mộ bia. Hai bên đường là ruộng, xa xa mới có một căn nhà. Má và tôi tìm đến căn nhà gần nhất để hỏi thăm, cũng may mắn chính ông chủ căn nhà là một trong số những người dân ở đó chôn em tôi khi bị nạn giữa đường mà không có thân nhân… Mộ em nằm cách nhà ông khoảng 50 m. Thuộc thôn Vân Cang, Xã Hoài Đức Huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định.
Ông chủ nhà rất tử tế, khi được biết chúng tôi đi tìm mộ người thân, ông mời Má và tôi ở lại nhà ông,vì khi tìm đến nhà ông trời cũng đã chạng vạng. Một căn nhà tường xây thật lớn, coi như ông là người khá giả nhất vùng đó, tắm rửa xong, ông mời dùng cơm, một bửa cơm thịnh soạn, thật cảm động, ông kể:
Khi máy bay rớt ông là người đứng ra chôn cất em tôi và một phi công nữa cùng bị nạn chung trên chuyến bay này. Nhưng anh phi công đó được gia đình biết sớm nên đã di dời về quê. Đêm đó ông lại nhường phòng ngủ của ông cho hai má con tôi ngủ, cái đặt biệt nữa là cái bóp của Đạt, tôi đã nhận ra ngay vì khi em tôi du học Mỹ em mua về sử dụng tôi có biết cái bóp da có hình đầu con Ngựa được đóng nổi. Trong bóp lại còn có tấm hình em mặc bộ đồ bay, tôi mang ra và xin phép ông được nhận lại kỷ vật…Ông rất vui vẻ. Ông cho biết khi ông chôn cất em tôi ông giữ lại kỷ vật này, ông vẫn để trên đầu giường (giường hộp) của ông.
Sáng hôm sau, Má tôi nhờ ông làm dùm tấm bia bằng gổ cắm trên mộ em tôi. Vì mộ mới nên không thể hốt cốt mang về. Và lần gặp này gia đình tôi rất mang ơn ông, mỗi khi có dịp vào Sài Gòn ông và các con ông đều ghé nhà chơi.
Năm năm sau Má tôi trở ra Bình Định hốt cốt em về và hỏa thiêu, sau đó gửi cốt vào chùa, Đạt mất khi em mới 25 tuổi.
Cái kỷ niệm đau thương, buồn rầu ấy cứ mãi đeo đẳng theo tôi đến tận bây giờ, trong trí tôi lúc nào cũng hình dung cái chết tức tưởi, đau đớn của em mình và trong lòng tôi như có một vết thương chưa lành hẵn…
Bài viết này, tôi ôn lại và ghi lại những gì tôi còn nhớ, những gì tôi được biết. Tôi chỉ còn nhớ và chắc chắn là không đầy đủ chi tiết.
Đã 40 năm qua, thời gian cứ trôi, bao kỷ niệm cay đắng vẫn còn, càng cố quên hình ảnh đứa em thân thương đó tôi lại càng cứ nhớ, càng yên lặng là lúc hồn tôi miên man nhớ về quá khứ, cái quá khứ đau xót mà gia đình tôi nhận lấy.
Có nhiều kỷ niệm, kỷ niệm vui buồn, nhiều thứ để quên, nhưng nỗi đau mất mát này không thể nào phai nhạt. Đạt là đứa em gần gũi tôi nhiều nhất.
Chiến tranh qua đi, là một nỗi đau hằn sâu vết thương lòng cho những người còn lại, sau cuộc chiến là sự mất mát tang thương, bao nhiêu người con yêu của tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về, bao nhiêu quả phụ chít khăn tang khi mái tóc còn xanh, trở thành góa phụ ngây thơ với nỗi buồn và sự mất mát to lớn.
Không có người Mẹ, người vợ nào trên thế giới lại không tan nát trái tim, trước sự mất mát quá lớn này, sự ra đi vĩnh viễn của những người con, những người chồng, người cha của mình “Vị Quốc Vong Thân” ! Đã hy sinh một cách âm thầm.
“Tổ Quốc Không Gian”, vùng mây trời mênh mông bao la đã vương giọt máu đào của em tôi, của Đạt, của những người anh hùng nghiêng cánh sắt. Cố bảo vệ, gìn giữ quê hương, đã đem sinh mạng đổi lấy hai chữ “Tự Do”.
Hồ Xuân Đạt một phi công trẻ của QLVNCH, đã chết vì quê hương, dân tộc. Là người thanh niên Biên Hòa, lớn lên trên dãy giang sơn hoa gấm thân yêu hình chữ “S”, một đất nước hiền hòa đầy tình dân tộc được dựng xây bằng xương máu của các bậc tiền nhân bốn ngàn năm văn hiến, sẽ mãi mãi làm trang sử QLVNCH đời đời sống dậy và người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ chết.
Xin chân thành biết ơn những anh em Thương Phế Binh VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương, cho chúng tôi còn được nguyên vẹn.
Xin chân thành gởi nén hương lòng “Tưởng Niệm” đến những Anh Hùng QLVNCH. Những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẫn tiết vì quốc nạn 30/04/1975 và những người ngã gục trong lao tù cộng sản. Những Anh Hùng Bất Tử trong dòng lịch sử Việt Nam.
Hoàng Ánh Nguyệt
(San Jose 2015)
Sunday, April 11, 2021
CHIỀU MƯA - THƠ DƯƠNG QUÂN
CHIỀU MƯA
(Gởi người bên kia)
Chiều giăng mây xám lưng trời
Giọt mưa rả rích cho đời buồn tênh
Vi vu gió hú đầu cành
Hỏi người bên ấy tâm tình có vui?
Ở đây mưa rất ngậm ngùi
Vắng tanh chẳng thấy bóng người thoáng qua
Giọt mưa lạnh buốt hiên nhà
Vần thơ cũng đẫm xót xa ngôn từ.
Nhớ về lời dạy cổ thư
Anh hùng cũng lụy bên bờ mỹ nhân
Quẩn quanh trong chốn hồng trần
Đời sa cơ đã bao lần ướt mưa.
Hỏi rằng: Cội phúc nghìn xưa
Vụng tu sao lại đổ thừa căn nguyên?
Cầu mong người được ấm êm
Gió mưa xin để dành riêng phương này
Chia ly là biển đọa đày
Nhớ thương là mộng chất đầy trang thơ.
Biết ai hứa hẹn mà chờ
Như mưa chiều vẫn mịt mờ không gian
Hạt mưa gội những phai tàn
Héo hon tình sử, ngổn ngang cõi buồn.
Nhạt nhòa lịm tắt hoàng hôn
Hỏi người có lạnh những cơn mưa chiều?
DƯƠNG QUÂN
Thursday, April 8, 2021
LỜI HẸN SAU CÙNG - THƠ DƯƠNG QUÂN
LỜI HẸN SAU CÙNG

Ta đã chết mấy lần, rồi sống lại
Không yên tâm về ngụ ở Thiên Đường
Bởi ta phải chờ em sang kiếp khác
Lại gặp nhau và tiếp nối yêu thương
Ta đã chết đêm qua, khi trăng lặn
Khi em về hứa hẹn giấc trăm năm
Ta đau nhức bởi vết thương trần thế
Nặng tình em nên hụt bước Niết Bàn
Ta còn nợ làm người chưa trả đủ
Nợ non sông, nợ kinh sử, nợ tình
Ta quay cuồng, ngập chìm trong bể khổ
Ta đi tìm toàn những thứ linh tinh
Ta đi tìm hoa tươi trong nắng hạ
Ta muốn nghe chim hót buổi đông tàn
Ta thèm ngắm bình minh ngày giông bão
Nên hoài công dẫm mãi lối gian nan
Ta đi tìm thủy chung trong phản bội
Còn chút nào cay đắng nữa không em?
Xin hãy quên lời đầu môi chót lưỡi
Thôi kiêu sa, trở lại nếp ngoan hiền
Và cũng thôi cho ta hi vọng ảo
Rằng, thì, là...mưa nắng, tuyết sương giăng
Củ cà rốt treo trước đầu con ngựa
Ta chạy theo rời rã cũng muộn màng
Nhớ xưa kia, ta có thừa uy dũng
(Anh hùng nào không lụy cửa mỹ nhân)
Sao giờ đây, ta yếu mềm điêu đứng
Tôn thờ em như thánh nữ giáng trần
Em nhớ không? Còn tuổi nào để đếm
Chỉ chờ nhau cũng đã hết kiếp người
Ta sẽ làm con sói già đơn độc
Để nhìn xem trái đất lúc ngừng xoay
Ta đến đây, đường nhân gian đã hết
Cõi trần ai ta nếm đủ đau buồn
Hẹn ngày kia, em hãy cùng ta chết
Để cùng nhau về thế giới yêu thương
Dương Quân
Thursday, April 1, 2021
TÌNH THẾ GIAN - THƠ DƯƠNG QUÂN
Tình Thế Gian
Xưa ta làm rễ trên trời
Bị đày rơi xuống làm người tình si
Ta khờ nên chẳng biết chi
Đường trần khúc khuỷu ta đi lạc loài
Tình cờ gặp gỡ em đây
Hỏi: Xưa có phải chung dây tơ hồng?
Em rằng: Chẳng nhớ Có – Không
Nhìn xem nét mặt thấy chừng quen quen
Ta đòi hôn thử má em
Em rằng: Đã có chồng em hôn rồi
Ta đòi hôn thử đôi môi
Em rằng: Chỉ sợ nụ cười héo hon
Ta xin nắm cổ tay tròn
Em rằng: mắc bận lũ con quây quần
Ta xin hôn dưới bàn chân
Em rằng: HÔN ĐƯỢC – chớ lần lên trên!
Ta về nằm ngủ giật mình:
Mùi bàn chân cũng thắm tình thế gian
Dương Quân
NHỮNG NỤ HÔN ĐỘC ĐÁO TRONG CA DAO MIỀN NAM
HOÀNG ÁNH NGUYỆT SƯU TẦM
NHỮNG NỤ HÔN ĐỘC ĐÁO TRONG CA DAO MIỀN NAM
Tôi yêu đất nước tôi, quê hương tôi, tôi yêu sông xanh, núi biếc, yêu gió, yêu trăng, chim muông, hoa lá, tôi yêu cả người nước tôi, hiền hòa dể mến, tôi nhớ lắm vì người nước tôi đã rất khéo léo. Tuy trọng đạo nghĩa Thánh Hiền, cũng như phong tục tập quán, văn chương nghệ thuật… nhưng với những câu hóm hỉnh, mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh “hò, vè, hát ru” … đã làm thành tục ngữ, những bất ngờ thú vị trong ca dao tình yêu Nam bộ, nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tứ, lãng mạn, ôm gọn dân tộc trong lòng, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được những câu ca lời hát của tổ tiên.
Tôi ghi lại “Những Nụ Hôn Độc Đáo Trong Ca Dao Miền Nam” trong ý thức trân trọng, đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí về nụ hôn trong ca dao miền Nam. Tính cách của người Nam bộ thể hiện qua ca dao rất phong phú, đa dạng của từng vùng, miền, khác nhau. Dù Nam hay Bắc, đều có những đặc tính chung nhất định của người Việt Nam. Vì vậy bài viết này chỉ xin nêu một số tính cách của con người Nam bộ. Sưu tầm được trong khi lạc bước…
Hầu hết mọi người từng ít nhất một lần hôn nhau để thực hiện tình cảm và cử chỉ thương yêu, hiện nay đặc biệt phổ biến. Một điều chắc chắn nụ hôn đồng hành cùng nhân loại từ lâu lắm.
Ở một phạm vi nào đó người ta vẫn cho rằng, nụ hôn đem lại niềm thích thú, do hai môi chạm nhau, sẽ tạo ra một dòng điện.
Nụ hôn, gần như món ăn không thể thiếu của những đôi uyên ương. Nhưng hôn như thế nào thì không phải ai cũng biết. Để biểu lộ tình yêu và khơi dậy cảm xúc nơi ngươì mình yêu và sẽ đặt đôi môi mềm mại của mình vào đâu? Đó là những vùng da nhạy cảm, mềm mại…
Phụ nữ thường thích được tặng quà quý nhất là những nụ hôn ngọt ngào…
Nụ hôn trong ca dao Miền Nam cũng không kém phần nóng bỏng và rất ư là mùi mẫn, gợi tình. Người miền Nam thường dùng chữ Hun thay vì nói Hôn. Sau đây là những kiểu hun trong ca dao miền Nam:
Khi chưa yêu, các chàng trai làng mới liếc nhìn ai thấp thoáng qua rặng trâm bầu tà áo bà ba phất phới, chàng đứng trên cầu Ô Rô mà lòng đã thấy sục sôi, bừng bừng lửa yêu rồi, nên chàng bạo dạn có những lời tỏ tình khá táo bạo sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
Bớ cô má lúm đồng tiền
Cho hun một chút đỡ ghiền khi xa
Chẳng lẽ các cô gái nghe vậy đưa má cho “cha căng chú kiết” nào hun sao? Nhưng anh ta không sờn lòng nản chí mà nhỏ nhẹ kỳ kèo, lời nói nghe khó tin. Nhưng hề gì, cốt cho nàng thấu hiểu lòng một anh chàng si tình nên “liều mạng”:
Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một chút, em Hai đừng phiền.
Hay không bằng hên, bằng lì, ở đời có may có rủi, ăn nhau ở nước bền, chàng nghĩ, sông có khúc, người có lúc, chàng cứ nài nỉ riết, cứ kỳ kèo riết cũng có ngày nàng xiêu lòng, bật cười nàng đáp:
Muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thổ lộ xóm giềng cười em.
Được nước chàng tiến tới liền không do dự, miễn sao nàng hiểu chàng phải ngọa ngôn để được nàng ưng thuận:
Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra xóm hai đàng chịu phạt chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tất biến, tui chun xuống sàn.
Anh chàng này lợi dụng hun bạo quá. Nhưng nhờ cái tài lẻo mép, nên các nàng chỉ nhắm mắt thưởng thức mà đâu nỡ la. Cho nên có cô nàng cũng xoa dịu, xuống nước nhỏ, vì chưng trong lòng cũng toại ý, thấy thích thích:
Phải chi em được ở chung
Thì đâu đến nỗi anh hun gối mòn.
Nghe nàng nói vậy anh chàng quá xúc động:
Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun.
Bỗng trong lòng chàng nghe rạo rực, trong tâm trạng rất vui, tràn đầy niềm tin nên sấn tới:
Trứng vịt đổ lộn trứng gà
Thấy em nhỏ thó anh đà muốn hun.
Anh thương nàng nhỏ thó, anh không ưng trứng vịt bự, mà ưng nhỏ nhỏ như trứng gà. Nghe anh nói vậy nàng hình như cảm thông, mặc dầu không thốt ra lời nhưng cũng thấy trong tim cảm giác rung động, chẳng những không mắc cỡ mà còn thách:
Hun trước một miếng mà chơi
Mâm trầu hủ rượu kết đôi vợ chồng.
Trong thời gian đợi chờ thì chàng lại thấy trong lòng ngan ngát một sự say sưa thèm muốn khác hẳn nên chàng phải tranh thủ hun một miếng:
Hun em anh hít lấy hơi
Lỡ khi phòng vắng còn mùi của em.
Khi chưa thành vợ thành chồng thì thèm hun cho đỡ ghiền, còn muốn để dành hơi…Đến khi cá đã cắn câu… trong lúc đang làm lễ vu qui, và đứng trước bàn thờ, hai người đang quì lại song thân, tạ ơn công sinh thành. Anh cảm động, khều nàng thỏ thẻ:
Trâm vàng giắt chặt tua rung
Em ơi day mặt lại anh hun cho đỡ lòng.
Còn không bao lâu nữa đã đến chốn phòng loan, động phòng hoa chúc, hơn nữa đang lúc làm lễ từ đường, làm gì mà gấp vậy, nàng nhỏ nhẹ khất nợ:
Xung quanh cô bác giáp vòng
Anh muốn hun về chốn loan phòng sẽ hun.
Lời khất của nàng làm chàng hết chịu nỗi:
Dao vàng tra cán gỗ mun
Thương em bất tử muốn hun bây giờ!
Quay sang nàng bất kể bà con cô bác hai họ… chàng hun lia lịa. Cho thấy rằng người xưa cũng yêu nhau tình tứ và lãng mạn lắm…
Một nụ hôn như hàng nghìn đời nay đã có, quen thuộc và cũ rích. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đang hưởng một nụ hôn nhàm chán. Đôi khi cổ điển nhưng rất lãng mạn.
Một chàng trai có nụ hôn môi nồng nàn, quyến rũ dễ khiến cô gái say mê.
Bao đời nay, những người yêu nhau vẫn hôn môi, khác biệt là ở chỗ bạn có biết “thưởng thức” đôi môi bạn tình hay không? Nụ hôn nhẹ nhàng hôn phớt lên má, hay nụ hôn dữ dội “kiểu Pháp” đều đem lại những đam mê bất tận.
Có người cho rằng nước Nga là nơi đầu tiên đưa nụ hôn vào nghi thức đám cưới, như một cách cam kết lời hứa bên nhau trọn đời.
Người La Mã hôn thay lời chào. Hoàng đế La Mã cho phép người dân tỏ lòng sùng kính bằng cách hôn lên người của ông từ chân tới má.
Thế kỷ 16 ở nước Anh, nụ hôn bắt nguồn từ trái táo. Một trái táo được bổ ra thành nhiều miếng nhỏ và thiếu nữ sẽ đem những miếng táo đó ra hội chợ đi lòng vòng đến khi phát hiện ra một chàng trai đáng được cô hôn. Cô gái sẽ mời chàng trái táo, mỗi lần chàng ăn hết một miếng táo là họ trao nhau một nụ hôn, khi ăn hết cả quả táo, chàng trai lại chờ đợi một thiếu nữ khác đến để tiếp tục trò chơi.
Nụ hôn xóa nhòa tội lỗi và tha thứ mọi lỗi lầm, cũng như bản chất của nụ hôn là một thủ thuật đáng yêu, để chấm dứt cuộc nói chuyện khi từ ngữ trở nên thừa thài.
Những người bạn, dành cho nhau nụ hôn trên má. Những người yêu nhau dành cho nhau nụ hôn trên môi. Những nụ hôn cho đi là cả những cảm xúc theo đó đến người nhận…
Cuối cùng dù bạn hôn và được hôn ở đâu thì chân thành và nồng nàn vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Chính tình yêu của bạn sẽ giúp cho nụ hôn của bạn trở nên tuyệt vời hơn bao giờ hết.
Hoàng Ánh Nguyệt
(Sưu tầm)
NHỮNG NỤ HÔN ĐỘC ĐÁO TRONG CA DAO MIỀN NAM
Tôi yêu đất nước tôi, quê hương tôi, tôi yêu sông xanh, núi biếc, yêu gió, yêu trăng, chim muông, hoa lá, tôi yêu cả người nước tôi, hiền hòa dể mến, tôi nhớ lắm vì người nước tôi đã rất khéo léo. Tuy trọng đạo nghĩa Thánh Hiền, cũng như phong tục tập quán, văn chương nghệ thuật… nhưng với những câu hóm hỉnh, mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh “hò, vè, hát ru” … đã làm thành tục ngữ, những bất ngờ thú vị trong ca dao tình yêu Nam bộ, nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tứ, lãng mạn, ôm gọn dân tộc trong lòng, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được những câu ca lời hát của tổ tiên.
Tôi ghi lại “Những Nụ Hôn Độc Đáo Trong Ca Dao Miền Nam” trong ý thức trân trọng, đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí về nụ hôn trong ca dao miền Nam. Tính cách của người Nam bộ thể hiện qua ca dao rất phong phú, đa dạng của từng vùng, miền, khác nhau. Dù Nam hay Bắc, đều có những đặc tính chung nhất định của người Việt Nam. Vì vậy bài viết này chỉ xin nêu một số tính cách của con người Nam bộ. Sưu tầm được trong khi lạc bước…
Hầu hết mọi người từng ít nhất một lần hôn nhau để thực hiện tình cảm và cử chỉ thương yêu, hiện nay đặc biệt phổ biến. Một điều chắc chắn nụ hôn đồng hành cùng nhân loại từ lâu lắm.
Ở một phạm vi nào đó người ta vẫn cho rằng, nụ hôn đem lại niềm thích thú, do hai môi chạm nhau, sẽ tạo ra một dòng điện.
Nụ hôn, gần như món ăn không thể thiếu của những đôi uyên ương. Nhưng hôn như thế nào thì không phải ai cũng biết. Để biểu lộ tình yêu và khơi dậy cảm xúc nơi ngươì mình yêu và sẽ đặt đôi môi mềm mại của mình vào đâu? Đó là những vùng da nhạy cảm, mềm mại…
Phụ nữ thường thích được tặng quà quý nhất là những nụ hôn ngọt ngào…
Nụ hôn trong ca dao Miền Nam cũng không kém phần nóng bỏng và rất ư là mùi mẫn, gợi tình. Người miền Nam thường dùng chữ Hun thay vì nói Hôn. Sau đây là những kiểu hun trong ca dao miền Nam:
Khi chưa yêu, các chàng trai làng mới liếc nhìn ai thấp thoáng qua rặng trâm bầu tà áo bà ba phất phới, chàng đứng trên cầu Ô Rô mà lòng đã thấy sục sôi, bừng bừng lửa yêu rồi, nên chàng bạo dạn có những lời tỏ tình khá táo bạo sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
Bớ cô má lúm đồng tiền
Cho hun một chút đỡ ghiền khi xa
Chẳng lẽ các cô gái nghe vậy đưa má cho “cha căng chú kiết” nào hun sao? Nhưng anh ta không sờn lòng nản chí mà nhỏ nhẹ kỳ kèo, lời nói nghe khó tin. Nhưng hề gì, cốt cho nàng thấu hiểu lòng một anh chàng si tình nên “liều mạng”:
Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một chút, em Hai đừng phiền.
Hay không bằng hên, bằng lì, ở đời có may có rủi, ăn nhau ở nước bền, chàng nghĩ, sông có khúc, người có lúc, chàng cứ nài nỉ riết, cứ kỳ kèo riết cũng có ngày nàng xiêu lòng, bật cười nàng đáp:
Muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thổ lộ xóm giềng cười em.
Được nước chàng tiến tới liền không do dự, miễn sao nàng hiểu chàng phải ngọa ngôn để được nàng ưng thuận:
Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra xóm hai đàng chịu phạt chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tất biến, tui chun xuống sàn.
Anh chàng này lợi dụng hun bạo quá. Nhưng nhờ cái tài lẻo mép, nên các nàng chỉ nhắm mắt thưởng thức mà đâu nỡ la. Cho nên có cô nàng cũng xoa dịu, xuống nước nhỏ, vì chưng trong lòng cũng toại ý, thấy thích thích:
Phải chi em được ở chung
Thì đâu đến nỗi anh hun gối mòn.
Nghe nàng nói vậy anh chàng quá xúc động:
Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun.
Bỗng trong lòng chàng nghe rạo rực, trong tâm trạng rất vui, tràn đầy niềm tin nên sấn tới:
Trứng vịt đổ lộn trứng gà
Thấy em nhỏ thó anh đà muốn hun.
Anh thương nàng nhỏ thó, anh không ưng trứng vịt bự, mà ưng nhỏ nhỏ như trứng gà. Nghe anh nói vậy nàng hình như cảm thông, mặc dầu không thốt ra lời nhưng cũng thấy trong tim cảm giác rung động, chẳng những không mắc cỡ mà còn thách:
Hun trước một miếng mà chơi
Mâm trầu hủ rượu kết đôi vợ chồng.
Trong thời gian đợi chờ thì chàng lại thấy trong lòng ngan ngát một sự say sưa thèm muốn khác hẳn nên chàng phải tranh thủ hun một miếng:
Hun em anh hít lấy hơi
Lỡ khi phòng vắng còn mùi của em.
Khi chưa thành vợ thành chồng thì thèm hun cho đỡ ghiền, còn muốn để dành hơi…Đến khi cá đã cắn câu… trong lúc đang làm lễ vu qui, và đứng trước bàn thờ, hai người đang quì lại song thân, tạ ơn công sinh thành. Anh cảm động, khều nàng thỏ thẻ:
Trâm vàng giắt chặt tua rung
Em ơi day mặt lại anh hun cho đỡ lòng.
Còn không bao lâu nữa đã đến chốn phòng loan, động phòng hoa chúc, hơn nữa đang lúc làm lễ từ đường, làm gì mà gấp vậy, nàng nhỏ nhẹ khất nợ:
Xung quanh cô bác giáp vòng
Anh muốn hun về chốn loan phòng sẽ hun.
Lời khất của nàng làm chàng hết chịu nỗi:
Dao vàng tra cán gỗ mun
Thương em bất tử muốn hun bây giờ!
Quay sang nàng bất kể bà con cô bác hai họ… chàng hun lia lịa. Cho thấy rằng người xưa cũng yêu nhau tình tứ và lãng mạn lắm…
Một nụ hôn như hàng nghìn đời nay đã có, quen thuộc và cũ rích. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đang hưởng một nụ hôn nhàm chán. Đôi khi cổ điển nhưng rất lãng mạn.
Một chàng trai có nụ hôn môi nồng nàn, quyến rũ dễ khiến cô gái say mê.
Bao đời nay, những người yêu nhau vẫn hôn môi, khác biệt là ở chỗ bạn có biết “thưởng thức” đôi môi bạn tình hay không? Nụ hôn nhẹ nhàng hôn phớt lên má, hay nụ hôn dữ dội “kiểu Pháp” đều đem lại những đam mê bất tận.
Có người cho rằng nước Nga là nơi đầu tiên đưa nụ hôn vào nghi thức đám cưới, như một cách cam kết lời hứa bên nhau trọn đời.
Người La Mã hôn thay lời chào. Hoàng đế La Mã cho phép người dân tỏ lòng sùng kính bằng cách hôn lên người của ông từ chân tới má.
Thế kỷ 16 ở nước Anh, nụ hôn bắt nguồn từ trái táo. Một trái táo được bổ ra thành nhiều miếng nhỏ và thiếu nữ sẽ đem những miếng táo đó ra hội chợ đi lòng vòng đến khi phát hiện ra một chàng trai đáng được cô hôn. Cô gái sẽ mời chàng trái táo, mỗi lần chàng ăn hết một miếng táo là họ trao nhau một nụ hôn, khi ăn hết cả quả táo, chàng trai lại chờ đợi một thiếu nữ khác đến để tiếp tục trò chơi.
Nụ hôn xóa nhòa tội lỗi và tha thứ mọi lỗi lầm, cũng như bản chất của nụ hôn là một thủ thuật đáng yêu, để chấm dứt cuộc nói chuyện khi từ ngữ trở nên thừa thài.
Những người bạn, dành cho nhau nụ hôn trên má. Những người yêu nhau dành cho nhau nụ hôn trên môi. Những nụ hôn cho đi là cả những cảm xúc theo đó đến người nhận…
Cuối cùng dù bạn hôn và được hôn ở đâu thì chân thành và nồng nàn vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Chính tình yêu của bạn sẽ giúp cho nụ hôn của bạn trở nên tuyệt vời hơn bao giờ hết.
Hoàng Ánh Nguyệt
(Sưu tầm)
Wednesday, March 24, 2021
NHỚ OANH - THƠ DƯƠNG QUÂN
NHỚ OANH
(Khi con chim bay đi,
nó làm cho cành cây cong xuống
Victor Hugo)
Vườn ta xưa, có chim Oanh hay đến
Hót líu lo trên cành bưởi, cành cam
Hoàng hôn rơi, tiếng chim kêu quyến luyến
Đêm dần khuya, giọng hót thoảng mơ màng
Ta vẫn đợi Oanh về vang tiếng hót
Lòng ta như ấm lại buổi mưa phùn
Những canh vắng, gió lùa qua song cửa
Oanh chưa về, ta se sắt chờ mong
Ta đã đợi nơi thư phòng thao thức
Trong cô đơn, ta mơ tưởng hình hài
Oanh từ đâu, đem cho ta tiếng hót
Ru lòng ta say đắm giấc Liêu Trai.
Ta mãi đợi, từng đêm tàn, nguyệt lạnh
Mong Oanh về, để lắng tiếng tri âm
Ai xui ta chuốc nỗi buồn sâu nặng
Câm nín như kẻ ngậm ngãi tìm trầm.
Ta mong được gần Oanh trong gang tấc
Khẽ ân cần, ve vuốt...tỏ thương yêu
Ta muốn trải lòng ta theo cánh gió
Để cùng Oanh vui nắng sớm, sương chiều
Nhưng Oanh vẫn mải mê trời xa rộng
Chợt về khi hoa lá ngủ, sương buồn
Oanh lại hót ru ta vào Cõi Mộng
Khiến lòng ta, dìu dặt giấc sầu vương
Bỗng một hôm, cơn gió nào cuốn lốc
Oanh bay đi biền biệt chẳng quay về
Vườn ta nay, ngậm ngùi hoa lá rụng
Giọng hót còn văng vẳng những đêm khuya.
Dương Quân
Tuesday, March 23, 2021
LỐI XƯA - THƠ DƯƠNG QUÂN
LỐI XƯA
(Để nhớ về Mỹ Hội)
Thuở bé anh về qua lối nhỏ
Trước sân em thấy vội ngừng chơi
Dắt tay, em bảo vào thăm chị
Chị ở sau vườn giặt áo phơi.
Một chị, một em nhà vắng vẻ
Em mười hai tuổi tóc buông lơi
Mỗi chiều tưới nước hàng hoa đỏ
Có hiểu gì đâu- nghĩa cuộc đời.
Rồi cứ mỗi năm về xóm nhỏ
Tóc dài, em mỗi lớn hơn xưa
Má em phơi phới và môi đỏ
Sân vắng, em không nữa cợt đùa
Ngỡ như những lúc em còn nhỏ
Đến hỏi thăm, em chẳng trả lời
Cứ đứng mân mê hoài chéo áo
Ngượng ngùng anh cũng nghĩ xa xôi.
Từ đó mỗi lần qua lối nhỏ
Nhìn anh- Em chỉ mỉm môi cười
Thăm nhà, anh trở ra thành thị
Bên cửa anh buồn đếm bước vơi.
Năm trước lại về qua lối nhỏ
Em mười tám tuổi đẹp như tiên
Áo hồng thấp thoáng trong song cửa
Tràn ngập tim anh- ánh mắt huyền.
Nhưng một hôm rồi qua lối nhỏ
Thấy em đan áo lạnh mùa đông
Trước sân đã hái màu hoa đỏ
Mới biết rằng em sắp lấy chồng.
Chiều nao thơ thẩn về qua ngõ
Trước cổng ai đề chữ VU QUI
Rải rác trên đường màu pháo đỏ
.........................................
Thôi rồi! Em đã bước ra đi.
***
Lâu lắm lại về qua lối nhỏ
Nhà em hoang vắng lá đầy sân
Em không còn trở về đây nữa
Chị đã ngủ yên dưới mộ phần
Dương Quân
1962
Friday, March 12, 2021
THƠ TẾT NHỚ QUÊ (DƯƠNG QUÂN), ĐÓN XUÂN (KIỀU OANH), NHỚ THƯƠNG (HAN)
TẾT NHỚ QUÊ
Từ lâu không trở lại quê nhà
Tết đến gợi buồn kẻ ở xa
Nhớ mảnh vườn xưa giờ đổi chủ
Thương cành mai cỗi vẫn đơm hoa
Người đi chẳng hẹn ngày tao ngộ
Kẻ ở hằng mong buổi thái hoà
Giấc mộng xuân nồng chừng đã nguội
Đời người như Tết cũng mau qua.
Dương Quân
ĐÓN XUÂN
Oanh én đã về với nắng trong
Đón Xuân vườn cũ nở đầy bông
Xứ người khắc khoải trời sương lạnh
Quê mẹ xôn xao bếp lửa hồng
Trẻ nhỏ đùa vui khoe áo mới
Ông Đồ múa bút viết đôi dòng
Chiều nay ngồi hướng về quê cũ
Biết đến bao giờ hết nhớ mong.
Kiều Oanh
NHỚ THƯƠNG
Thời gian lặng lẽ hững hờ trôi
Cứ nhớ thương ai cả kiếp người
Đã mấy thu qua buồn khắc khoải
Còn bao đông nữa khóc đơn côi
Đường đời cách biệt mong chung hướng
Cuộc thế xoay vần hẹn đẹp đôi
Mơ buổi tương phùng tròn ước nguyện
Hay lòng sầu chuốc hận chia phôi ...
Hoàng Ánh Nguyệt
Subscribe to:
Posts (Atom)



