TRĂNG VIỄN XỨ (HOÀNG ÁNH NGUYỆT

TRĂNG VIỄN XỨ

Trăng treo ảo ảnh biên đình

Trăng soi lữ khách độc hành viễn du

Trăng thề hẹn bến tương tư

Dẫu tàn phai vẫn thiên thu đợi người

(Dương Quân)


Cám ơn các thân hữu đã ghé vào ngôi nhà đơn sơ của HOÀNG ÁNH NGUYỆT






Monday, May 2, 2016

NỖI NHỚ KHÔN NGUÔI THƠ HOÀNG ÁNH NGUYỆT BẰNG GIANG PHỔ NHẠC



NỖI NHỚ KHÔN NGUÔI 

 

Lá vàng rơi khắp nẻo

Nỗi nhớ càng dâng cao

Âm thầm em khẽ hỏi

Chờ anh đến khi nào ?

 

Hoàng hôn … ánh sao rơi

Nhớ anh mãi khôn nguôi

Lưng trời vang tiếng gọi

Thươnh anh … lòng ngậm ngùi.

 

Đắm chìm trong suối mộng

Tình yêu vẫn mù xa

Bóng chiều nghiêng nắng đổ

Biển đời nhiều phong ba.

 

Anh bên khung trời ấy

Tuyết trắng phủ ngàn hoa

Lạnh lòng anh có nhớ

Bao kỷ niệm ngày qua

 

Cách xa đến muôn trùng

Vẫn nuôi mộng tình chung

Mong ngày vui nắng hạ

Nụ hôn buổi tương phùng.

 

Hoàng Ánh Nguyệt

(21 - 4 - 2004)


Nhạc sĩ Bằng Giang phổ nhạc

Nhạc sĩ Cao Ngọc Dũng hòa âm

Tiếng hát Ca sĩ Tâm Thư

 

 

ban_nhac_noi_nho_khon_nguoi_

 

*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức:

NỖI NHỚ KHÔN NGUÔI - Thơ HOÀNG ÁNH NGUYỆT -Nhạc BẰNG GIANG - Tiếng hát Tâm Thư 



Sunday, May 1, 2016

VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ ĐƯỜNG TRĂNG CUỐI NĂM CỦA HÀ THU THUỶ - DƯƠNG QUÂN

Vài cảm nhận về bài thơ 
Đường Trăng Cuối Năm của Hà Thu Thủy

Tôi thường hay ghé thăm Trang Thơ của Web AHBH, nơi đây có nhiều tác giả làm thơ rất hay, thỉnh thoảng rồi tôi sẽ nhắc đến. 
Hôm nay, đọc bài thơ Đường Trăng Cuối Năm của tác giả Hà Thu Thủy, sau một đêm không ngủ được, làm cho tôi bắt buộc phải ngồi vào bàn phiếm, gõ mấy giòng cảm nhận về bài thơ mới được đăng lên.
Cũng tại cái TỰA đẹp quá, gây chú ý cho người đọc: Đường Trăng Cuối Năm cũng như Nguyễn Thị Thêm hôm trước với bài Bên Kia Rặng Núi (mở đầu bằng một câu hỏi: Có gì không bên kia rặng núi? và kết luận bằng một câu trả lời: Bên kia núi xanh chẳng có ai chờ) Thơ như vậy nên không khen không được.
Hôm nay với cái TỰA Đường Trăng Cuối Năm đầy thơ mộng, nên phải xem coi tác giả nói gì?
Nói về Trăng, thì từ xưa tới nay, ai ai là thi nhân đều có những vần thơ về Chị Hằng. Từ Trăng "chết chìm" của Lý Bạch, đến trăng lãng mạn của Lamartine trăng Triết học của Tagore, tiếng chó sói tru giữa đêm trăng của A. Vigny, đến ma quái của Đinh Hùng hay nổi tiếng nhất là "trăng nằm sóng soải" của Hàn Mặc Tử v. v...
Bài thơ Đường Trăng Cuối Năm của Hà Thu Thủy về chữ, lời và ý đều xoay quanh đề tài Trăng gồm 5 khổ thơ, theo thể 8 chữ vần ôm, câu 2 và câu 4. Tác giả sử dụng 3 khổ thơ trong 3 lần với điệp ngữ "Đứng Giữa Đường Trăng" để "mềm môi mời mọc" để "mơ làm giun dế" và để "làm người mất trí"
Hãy nhìn bài thơ này với cái nhìn của Trường Phái Trừu Tượng (symbolisme) và cái nhìn Siêu Thực (sur-realisme) để cảm nhận tư tưởng của tác giả.
Tác giả Đứng Giữa Đường Trăng mềm môi mời mọc hỏi chuyện tình yêu ở chốn thiên đường và cõi nhân gian có khác nhau không? Hay cũng đầy nước mắt?

Đứng giữ đường trăng mềm môi mời mọc
Những vì sao về nghe chuyện dương trần
Chuyện tình đầu buồn tựa như tiếng khóc
Chốn thiên đường, yêu có khác nhân gian?

Có khác chi không tình đầy nước mắt
Mặn những giận hờn, đắng ngắt gian nan
Cười chưa tròn đã não nề cuối mặt (cuối hay cúi?)
Hiu hắt một mình sầu suốt trăm năm

Tác giả lại Đứng Giữa Đường Trăng để mơ làm giun dế, để hát suốt đêm dài cho quên hết thời gian và để ngủ giữ rừng cây cùng muôn đời mặc niệm:

Đứng giữa đường trăng mơ làm giun dế
Hát suốt đêm trường quên hết thời gian
Ngủ giữa rừng cây muôn đời mặc niệm
Tay đan cành cùng lá đẫm dòng trăng


Đến đây, sao thấy tác giả có "hơi thơ" như phái khắc kỷ, hay Lão Trang quá?
Rồi lại "Đứng Giữa Đường Trăng" lần thứ 3. Nhưng lần này tăng thêm một bậc là để "làm người mất trí" Mất trí nhưng thật đáng yêu, vì chỉ hát ca khúc hiền hòa, nằm dưới bụi hồng và an lành trong mộng phiêu diêu

Đứng giữa đường trăng làm người mất trí
Hát thật hiền hòa ca khúc thương yêu
Nằm dưới bụi hồng bình yên giấc ngủ
Sẽ thật an lành trong mộng phiêu diêu..

Còn một khổ thơ cuối cùng, tác giả làm kết luận bài thơ với lời kêu gọi vầng trăng đẹp xin xóa giùm tăm tối u buồn, thắp sáng nụ cười, xua tan cay nghiệt để cho tóc rừng được chảy suông.

Ơi đường trăng đẹp chan hòa khốc liệt
Xóa hộ ta những khỏang tối u buồn
Thắp sáng nụ cười xua tan cay nghiệt
Chảy suông giùm dòng tóc rừng buông.

Khổ thơ cuối cùng này đẹp quá, ý và lời mênh mông diệu vợi. Tác giả đầy can đảm "dám" dùng chữ KHỐC LIỆT trong chan hòa khốc liệt. Nếu suy nghĩ theo thói thường tình, có người sẽ cho rằng hơi khá sống sượng nhưng theo tôi, đây là lời đoan quyết tác giả phải nói hết cường độ vừa nói lời xin, vừa bắt buộc, vầng trăng được yêu cầu phải thực hiện theo ý tác giả.
Vì lời yêu cầu "xóa u buồn" "thắp sáng nụ cười" "chảy suông dòng tóc rừng" là nguyện vọng làm cho thế gian này thăng hoa, thay cho tiếng khóc, giận hờn đắng ngất đã nói ở trên.
Cám ơn tác giả Hà Thu Thủy đã gởi đến cho người đọc thông điệp yêu thương và nhân ái với nhiều quyết tâm. Văn chương đối với người nghệ sĩ thật là quí như bài thơ Đường Trăng Cuối Năm.
Cũng không quên gởi đến Hà Thu Thủy thắc mắc rằng: Ủa? Sao tác giả đặt cái TỰA là Đường Trăng Cuối Năm. Đường Trăng thì đã thấy và đã phân tích. Còn "Cuối Năm" sao không thấy tác giả đề cập chữ nào
trong suốt cả bài thơ?
Dù sao. Đây là một bài thơ hay mà tôi đọc đi đọc lại rất nhiều lần.

Dương Quân
4.15

Ý kiến bạn đọc
03 Tháng Tư 20157:37 SA
Khách
[là cúi mặt mà] .Chỉ có đứng giữa đường trăng cuối năm thì Thủy mới thế thôi còn nhũng mùa trăng khác thì không thế .Cảm ơn anh vì nhũng phân tích sâu sắc vô cùng này. Cảm ơn và cả cảm động nũa anh Dương Quân ạ




THƯƠNG TIẾC NGƯỜI PHI CÔNG TRẺ - HOÀNG ÁNH NGUYỆT



Thương Tiếc Người Phi Công Tr

  phicong
        Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo kaki…
   Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Anh, em trai hầu hết là quân nhân. Chồng tôi, Hoàng Ngọc Thái Đại Úy Công Binh, anh Hai Thiếu Tá Pháo Binh, anh Ba Chiến Tranh Tâm Lý, em thứ Năm Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Công Binh, em thứ Sáu Trung Sĩ Pháo Binh, và em thứ Bảy Trung Úy Không Quân. Tất cả những quân nhân trong gia đình đã chiến đấu hào hùng vì lý tưởng, chính nghĩa Quốc Gia, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho một Tổ Quốc Tự Do toàn vẹn.
    Năm 1967, Em tôi, Hồ Xuân Đạt, khi vừa đậu xong bằng tú tài I, dù vẫn được hoãn dich vì lý do học vấn, vẫn tình nguyện lên đường theo tiếng gọi của non sông. Em đã xếp áo thư sinh, Từ giã học đường, gia đình, bạn bè…gởi lại sau lưng những kỷ niệm, những ước mơ thật đẹp, thật hồn nhiên của tuổi mới lớn.
   Năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, em được chọn vào ngành Không Quân và được gửi đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi công trực thăng (Helicopter) tại tiểu bang Texas Hoa Kỳ.
   Năm 1970, khi tốt nghiệp em về lại Việt Nam, phục vụ tại phi trường Biên Hòa thuộc Sư Đoàn III Không Quân QLVNCH. Ngay chính nơi chôn nhau cắt rún của mình.
phicong1
Bằng Lái Máy Bay
    Hai năm sau, vì nhu cầu chiến trường, em nhận lệnh thuyên chuyển ra vùng I chiến thuật, công tác tại phi trường Đà Nẵng rất gần với đơn vị của chồng tôi. Khi ấy, chồng tôi, đại úy Hoàng Ngọc Thái, đại đội trưởng đại đội Biệt Lập 127 Cầu Nổi.
 Hàng tuần vào những ngày nghỉ, em hay về nhà tôi chơi trong khu cư xá Phước Tường Đà Nẵng. Chị em có nhiều dịp gần gũi nhau hơn. Em hay kể cho tôi nghe về những chuyến bay tác chiến, những phi vụ tiếp tế và tải thương tại chiến trường về đêm đầy những hiểm nguy mà em tham dự. Về những người lính can đảm đã anh dũng chiến đấu, đã hy sinh bỏ mình cho tổ quốc.
Chiến tranh vẫn tiếp diễn và em tôi, vẫn hằng đêm thực hiện những phi vụ hiểm nguy để yểm trợ, sát cánh cùng chiến hữu các đơn vị để chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.


phicong2
   Tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tin tức địch quân sắp chiếm Đà Nẵng làm dân chúng xôn xao, hỗn loạn tìm đường thoát chạy. Trong khu cư xá sĩ quan của Liên Đoàn 8 Công Binh, tôi không làm sao liên lạc được với chồng vì anh đang phải cấm trại tại đơn vị. Vừa lo lắng cho chồng, vừa lo cho Đạt em tôi, vừa lo cho chính bản thân mình và các con. Sau này nghĩ lại, thời gian ấy thật sự đáng sợ và kinh khủng nhất trong đời tôi.
   Bỗng nhiên một buổi sáng trước ngày Đà Nẵng thất thủ, Đạt lái trực thăng đáp xuống khoảng sân rộng trước nhà tôi ở khu cư xá sĩ quan Công Binh Phước Tường. Khi bước vào nhà gặp tôi, trông em có vẻ căng thẳng và lo lắng. Em nói “Chị và các cháu chuẩn bi sẵn sàng. Em sẽ trở lại đón vào phi trường tìm đường về Sàigòn càng sớm càng tốt”.  Nói xong, em quay lưng bước vội về chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy ngoài sân. Trước khi cất cánh, em nhìn tôi rồi gượng nở nụ cười qua khung cửa gió của con tàu.. Tôi không bao giờ ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Đạt. Cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nụ cười của em tôi. Một nụ cười buồn, rất buồn. Bởi, em chẳng bao giờ trở lại đón tôi như lời đã hứa.
   Ngày 29/03/1975 Đà Nẵng thất thủ.
   Ngày 05/05/1975 với nhiều vất vả, khổ cực, tôi một mình dìu dắt bốn đứa con nheo nhóc từ Đà Nẵng về nhà mẹ ở Sàigòn. Về đến nhà Mẹ thì mới hay Thái, ông xã tôi,  đã có mặt ở nhà Mẹ cả tháng, vì nghĩ rằng chú các cháu ( trung uý phi công Hoàng Ngọc Thịnh lái A37 không Quân QLVNCH) đưa  vợ con vào phi trường Đà Nẵng về Sài Gòn trước rồi, nên trong lúc thất thủ anh cũng vất vả tìm cách về Sài Gòn, anh có ngờ đâu vợ con anh còn kẹt lại Đà Nẵng. Bỏ ăn, bỏ ngủ với thân hình tiều tụy, vì nhớ thương vợ con, anh đã không từ một xác trôi nổi nào được tấp vào bất cứ bãi biển, bến tàu nào anh cũng tìm đến nhìn mặt xem có phải vợ con mình không, anh lang thang khắp nơi như người mất hồn.Tôi cũng không gặp được anh vì anh đã đi ngược ra Đà Nẵng tìm vợ con sau một tháng trời mất liên lạc. Giữa đường anh bị bắt, bị bịt mắt còng tay ra sau lưng, bị dẫn độ đi ngày đêm trong rừng sâu, và từ đó anh bặt tăm, một lần nữa tôi lại đi tìm chồng, không biết địch có để cho anh sống hay chúng đã giết anh rồi…Nhưng may mắn anh còn sống.  Tôi đã gặp anh và anh đang bị tù mãi tận trong núi Kỳ Sơn Quãng Nam…
        Ngày tháng trôi qua cả nhà tôi lại tiếp tục đi tìm em trai Đạt, hết trại tập trung này đến trại cải tạo kia, vẫn không nơi nào có tên em, cứ tưởng Đạt bay đi được ra khỏi Việt Nam và đang tị nạn ở Hoa Kỳ, Canada hay một nước nào đó trên thế giới, không ngờ đến tháng  11/1975  một anh quân nhân VNCH cùng đi trên chuyến bay định mệnh, sau khi máy bay bị bắn rớt, anh bị bắt đi tù gần 8 tháng về kể lại:
        Máy bay cất cánh vội vàng với số lượng quá tải, cũng cố cất cánh bay cao rời khỏi phi trường Đà Nẵng với bao nhiêu người trên chuyến bay định mệnh trong những giờ phút mà đạn pháo quân thù bay ra xối xả, Đạt có ngờ đâu đó là phi vụ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp…
        Khi phi cơ bay qua vùng Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định thì bị một loạt mưa đạn AK của địch từ phía dưới bắn lên nhắm ngay buồng lái, Đạt bị trúng thương, người phi công nữa vào thay cũng bị bắn, trong lúc Đạt bị bắn trọng thương anh lính đã chăm sóc, Đạt biết mình không thể sống, nên đọc địa chỉ nhờ nhắn tin về nhà, cả hai phi công đều tử nạn, chiếc trực thăng không người lái, bay chúi xuống ruộng, sát chân núi. Những người trên chuyến bay còn sống đã bị địch bắt…
        Vẫn giữ lời, sau khi ra tù anh quân nhân tốt bụng, đã tìm đến tận nhà báo tin về chiếc phi cơ của Đạt bị địch bắn và rơi xuống vùng Bồng Sơn (Bình Định) ngày 27/03/1975 như tôi đã kể trên. Và chỉ rõ địa điểm máy bay lâm nạn.
         Quá bất ngờ lẫn đau sót và vô cùng bối rối, và cũng vì anh lính vội vã về gia đình nên anh lính chỉ báo tin cho biết và đi ngay, cả nhà tôi nghe tin sét đánh, đã lặng người, không còn nghe thấy gì, không còn nhớ tên anh lính cũng như địa chỉ hay quê quán nơi anh cư ngụ…
        Theo lời anh lính chỉ đường, tôi và Má tôi đi xe đò ra Bồng Sơn, mặc dù không rành đường, nhưng khi xe chạy gần đến nơi tôi linh tính như có ai dẫn đường, tôi kêu xe ngừng lại đúng ngay địa điểm chiếc máy bay vẫn còn nằm dưới đám ruộng tuốt trong xa, gần chân núi, chỉ cần sơ ý xe chạy lướt qua, coi như không thể tìm thấy.
           Xuống xe quan sát, tôi nhìn thấy ngay nấm mộ đất dưới bờ ruộng, sát lề đường QL.I. ,không mộ bia. Hai bên đường là ruộng, xa xa mới có một căn nhà. Má và tôi tìm đến căn nhà gần nhất để hỏi thăm, cũng may mắn chính ông chủ căn nhà là một trong số những người dân ở đó chôn em tôi khi bị nạn giữa đường mà không có thân nhân… Mộ em nằm cách nhà ông khoảng 50 m. Thuộc thôn Vân Cang, Xã Hoài Đức Huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định.
        Ông chủ nhà rất tử tế, khi được biết chúng tôi đi tìm mộ người thân, ông mời Má và tôi ở lại nhà ông,vì khi tìm đến nhà ông trời cũng đã chạng vạng. Một căn nhà tường xây thật lớn, coi như ông là người khá giả nhất vùng đó, tắm rửa xong, ông mời dùng cơm, một bửa cơm thịnh soạn, thật cảm động, ông kể:
        Khi máy bay rớt ông là người đứng ra chôn cất em tôi và một phi công nữa cùng bị nạn chung trên chuyến bay này. Nhưng anh phi công đó được gia đình biết sớm nên đã di dời về quê. Đêm đó ông lại nhường phòng ngủ của ông cho hai má con tôi ngủ, cái đặt biệt nữa là cái bóp của Đạt, tôi đã nhận ra ngay vì khi em tôi du học Mỹ em mua về sử dụng tôi có biết cái bóp da có hình đầu con Ngựa được đóng nổi. Trong bóp lại còn có tấm hình em mặc bộ đồ bay, tôi mang ra và xin phép ông được nhận lại kỷ vật…Ông rất vui vẻ. Ông cho biết khi ông chôn cất em tôi ông giữ lại kỷ vật này, ông vẫn để trên đầu giường (giường hộp) của ông.
        Sáng hôm sau, Má tôi nhờ ông làm dùm tấm bia bằng gổ cắm trên mộ em tôi. Vì mộ mới nên không thể hốt cốt mang về. Và lần gặp này gia đình tôi rất mang ơn ông, mỗi khi có dịp vào Sài Gòn ông và các con ông đều ghé nhà chơi.
         Năm năm sau Má tôi trở ra Bình Định hốt cốt em về và hỏa thiêu, sau đó gửi cốt vào chùa, Đạt mất khi em mới 25 tuổi.
         Cái kỷ niệm đau thương, buồn rầu ấy cứ mãi đeo đẳng theo tôi đến tận bây giờ, trong trí tôi lúc nào cũng hình dung cái chết tức tưởi, đau đớn của em mình và trong lòng tôi như có một vết thương chưa lành hẵn…
        Bài viết này, tôi ôn lại và ghi lại những gì tôi còn nhớ, những gì tôi được biết. Tôi chỉ còn nhớ và chắc chắn là không đầy đủ chi tiết.
         Đã 40 năm qua, thời gian cứ trôi, bao kỷ niệm cay đắng vẫn còn, càng cố quên  hình ảnh đứa em thân thương đó tôi lại càng cứ nhớ, càng  yên lặng là lúc hồn tôi miên man nhớ về quá khứ, cái quá khứ đau xót mà gia đình tôi nhận lấy.
         Có nhiều kỷ niệm, kỷ niệm vui buồn, nhiều thứ để quên, nhưng nỗi đau mất mát này không thể nào phai nhạt. Đạt là đứa em gần gũi tôi nhiều nhất.
         Chiến tranh qua đi, là một nỗi đau hằn sâu vết thương lòng cho những người còn lại, sau cuộc chiến là sự mất mát tang thương, bao nhiêu người con yêu của tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về, bao nhiêu quả phụ chít khăn tang khi mái tóc còn xanh, trở thành góa phụ ngây thơ với nỗi buồn và sự mất mát to lớn.
         Không có người Mẹ, người vợ nào trên thế giới lại không tan nát trái tim, trước sự mất mát quá lớn này, sự ra đi vĩnh viễn của những người con, những người chồng, người cha của mình “Vị Quốc Vong Thân” ! Đã hy sinh một cách âm thầm.
        “Tổ Quốc Không Gian”, vùng mây trời mênh mông bao la đã vương giọt máu đào của em tôi, của Đạt, của những người anh hùng nghiêng cánh sắt. Cố bảo vệ, gìn giữ quê hương, đã đem sinh mạng đổi lấy hai chữ “Tự Do”.
        Hồ Xuân Đạt một phi công trẻ của QLVNCH, đã chết vì quê hương, dân tộc. Là người thanh niên Biên Hòa, lớn lên trên dãy giang sơn hoa gấm thân yêu hình chữ “S”, một đất nước hiền hòa đầy tình dân tộc được dựng xây bằng xương máu của các bậc tiền nhân bốn ngàn năm văn hiến, sẽ mãi mãi làm trang sử QLVNCH đời đời sống dậy và người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ chết.
        Xin chân thành biết ơn những anh em Thương Phế Binh VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương, cho chúng tôi còn được nguyên vẹn. 
        Xin chân thành gởi nén hương lòng “Tưởng Niệm” đến những Anh Hùng QLVNCH. Những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẫn tiết vì quốc nạn 30/04/1975 và những người ngã gục trong lao tù cộng sản. Những Anh Hùng Bất Tử trong dòng lịch sử Việt Nam. 
Hoàng Ánh Nguyệt
(San Jose 2015)



LỜI HAY